Biến phụ phẩm nông nghiệp thành nguồn thức ăn chăn nuôi chính

Thay đổi thói quen canh tác, nhiều nông dân ở huyện Phú Thiện (tỉnh Gia Lai) đã biến những phế phẩm nông nghiệp sau thu hoạch thành thức ăn chăn nuôi cho hiệu quả cao.

Anh Nguyễn Văn Trực cho gà ăn trùn quế và sâu canxi. Ảnh: Đăng Lâm. 
Anh Nguyễn Văn Trực cho gà ăn trùn quế và sâu canxi. Ảnh: Đăng Lâm. 

Thay đổi thói quen

Mô hình vườn – ao – chuồng rộng 1ha của gia đình ông Nguyễn Văn Cường (ở thôn Thanh Trang, xã Ia Peng, Phú Thiện) gồm nuôi bò, gà, vịt, ao thả cá và trồng cỏ. Ngày trước, lượng phân bón từ chăn nuôi bò, gà, vịt ông đều dùng bón cho hơn 2 sào cỏ, còn lại ông thả trực tiếp xuống ao cho cá ăn.

Đầu năm 2023, sau khi tham gia lớp tập huấn kỹ thuật trong sản xuất nông nghiệp kết hợp chăn nuôi, gia đình ông đã thay đổi cách làm. Đàn bò, gà của ông không chăn thả rông nữa mà thay vào đó, ông đã xây dựng chuồng trại để nuôi nhốt.

Từ đó, lượng phân thải ra từ chăn nuôi nhiều hơn trông thấy so với trước đây. Số phân thu được từ chăn nuôi, ông không bón hoặc thả trực tiếp xuống vườn cỏ, ao cá nữa mà thay vào đó, ông dùng để nuôi trùn quế.

“Nuôi trùn quế vừa hạn chế ô nhiễm môi trường từ chất thải chăn nuôi, vừa tạo ra nguồn thức ăn chất lượng cho vật nuôi”, ông Nguyễn Văn Cường cho biết.

Với gia đình ông Nguyễn Văn Trực ở tổ dân phố 8, thị trấn Phú Thiện, việc thay đổi thói quen trong sản xuất nông nghiệp cũng bắt đầu từ những lớp tập huấn như trên. Gia đình ông Trực có 1 sào đất trồng các loại rau (1 sào Tây Nguyên = 1.000m2).

Trước đây, cứ sau mỗi lần thu hoạch, có đến 2- 3 tạ rau già hoặc hư hỏng, ông làm thức ăn cho đàn gà 50 con mỗi lứa nhưng vẫn không hết, đành phải bỏ đi. Đầu năm 2024, sau khi tham gia các buổi tập huấn nuôi sâu canxi và nuôi trùn quế, ông bắt tay vào việc xây chuồng trại với diện tích 40 m2 được chia làm 6 ô. Lượng rau thừa nói trên ông dùng làm nguyên liệu để nuôi sâu canxi và nuôi trùn quế.

Còn gia đình bà Lê Thị Tuyết (thôn Nam Hà, xã Ia Ke) có thói quen là sau khi thu hoạch lúa, rơm ra được đốt bỏ ngay tại ruộng. Tuy nhiên hai năm trở lại đây, sau khi tham gia lớp tập huấn do Hội Nông dân huyện tổ chức thì thay vì đốt ngay tại ruộng, lượng rơm rạ sau thu hoạch lúa được bà tận dụng làm đệm lót sinh học trong chăn nuôi gà.

“Đốt rơm rạ không tái tạo được nhiều cho độ phì nhiêu trong đất, ngược lại còn gây lãng phí nguồn phụ phẩm này. Lượng rơm rạ sau thu hoạch lúa, tôi dùng ủ với men sinh học EM để làm đệm lót sinh học cho đàn gà. Ngoài ra, tôi còn tận dụng lượng rau già cỗi trong vườn để nuôi sâu canxi dùng làm thức ăn cho gà”, bà Tuyết cho biết.

Hiệu quả trông thấy

Từ khi thay đổi cách làm, mô hình vườn – ao – chuồng kết hợp nuôi trùn quế của gia đình ông Nguyên Văn Cường (thôn Thanh Trang, xã Ia Peng) đã cho hiệu quả khả quan. Ông Cường chia sẻ, với diện tích chuồng nuôi trùn quế hơn 30m2, mỗi đợt nuôi thu được trên 200kg trùn quế, mỗi năm thu 4- 5 đợt được khoảng 1 tấn phân trùn quế, đảm bảo lượng thức ăn trong chăn nuôi.

Theo đó, đã giảm đáng kể chi phí trong việc mua thức ăn chăn nuôi, đồng thời gà, vịt và cá cho chất lượng thịt cao hơn trước rất nhiều, môi trường lại không bị ảnh hưởng do lượng phân thải ra từ chăn nuôi ga súc…

Còn với mô hình nuôi sâu canxi và nuôi trùn quế của gia đình ông Nguyễn Văn Trực (tổ dân phố 8, thị trấn Phú Thiện), hiệu quả mang lại cũng hết sức thiết thực. Ông Trực cho biết, cứ sau mỗi đợt thu hoạch, ông chỉ sử dụng một ít rau bỏ đi cho gà ăn để tạo chất xơ, phần còn lại ông dùng làm thức ăn cho sâu canxi và trùn quế, sau đó ông thu thu hoạch sản phẩm là trùn quế và sâu canxi làm thức ăn cho gà.

Đàn gà của gia đình bà Tuyết được nuôi trên nền đệm lót sinh học. Ảnh: Đăng Lâm.
Đàn gà của gia đình bà Tuyết được nuôi trên nền đệm lót sinh học. Ảnh: Đăng Lâm.

“Với hình thức này, sau môi đợt nuôi, gia đình tôi đã tiết kiệm được khoảng một nửa chi phí trong việc mua thức ăn cho bầy gà. Không những vậy mà gà ăn sâu canxi rất nhanh lớn, chất lượng thịt gà cũng thơm ngon hơn nhiều. Từ khi nuôi gà bằng hình thức này, tôi không còn phải lo đầu ra bởi thương lái tìm đến tận nhà để mua, thậm chí nhiều người còn đặt cọc tiền trước”, ông Trực cho biết.

Từ khi không đốt tại ruộng sau thu hoạch, bà Lê Thị Tuyết (thôn Nam Hà, xã Ia Ke) sử dụng rơm rạ làm đệm lót sinh học cho gà. Đàn gà của gia đình bà… vui lên trông thấy. Bà Tuyết cho biết, mỗi năm, gia đình bà nuôi 2 lứa gà, mỗi lứa 50 con Từ khi có đệm lót sinh học được làm từ rơm rạ, chuồng gà không còn mùi hôi thối như trước đây, theo đó bà Tuyết cũng không mất nhiều thời gian cho việc làm vệ sinh chuồng trại. Đặc biệt là từ khi sử dụng đệm lót sinh học, đàn gà nhà bà ít bị dịch bệnh hơn trước, ngược lại còn phát triển khỏe hơn.

“Thời gian tới, gia đình tôi sẽ mở rộng quy mô chăn nuôi, xây thêm chuồng trại. Lượng rơm rạ sau khi thu hoạch lúa, tôi sẽ tận dụng tối đa để ủ với men sinh học, làm đệm lót sinh học cho đàn gà. Bên cạnh đó, tôi cũng sẽ tăng thêm quy mô nuôi sâu canxi để làm thức ăn cho gà, từ đó nhân rộng đàn gà để tăng thu nhập cho gia đình”, bà Tuyết chia sẻ.

Ở huyện Phú Thiện, ngoài những mô hình như gia đình ông Cường, ông Trực hay bà Tuyết, còn có không ít hộ nông dân đã thay đổi cách làm, tận dụng các phụ phẩm nông nghiệp để phục vụ chăn nuôi hoặc xử lý chất thải. Các mô hình nuôi trùn quế, nuôi sâu canxi làm thức ăn chăn nuôi đã cho thấy hiệu quả rõ rệt. Từ đó, ngoài tiết kiệm chi phí trong chăn nuôi, tăng thu nhập cho gia đình, còn góp phần tích cực trong việc bảo vệ môi trường.

Theo nongnghiepmoitruong.vn

Để phụ phẩm nông nghiệp không là “đồ bỏ đi”

Quá trình sản xuất nông nghiệp tạo ra một lượng phụ phẩm lớn. Nguồn tài nguyên này nếu được khai thác, sử dụng tốt sẽ không chỉ đem lại hiệu quả kinh tế, mà còn góp phần bảo vệ môi trường.

156 triệu tấn phụ phẩm nông nghiệp mỗi năm

Tại hội thảo “Hiện trạng phụ phẩm nông, lâm, thủy sản và đề xuất cách xử lý” do Bộ NN-PTNT tổ chức ngày 10/9/2023, tiến sĩ Tống Xuân Chinh- Phó Cục trưởng Cục chan nuôi (Bộ NN-PTNT) cho biết, tổng phụ phẩm trong quá trình sản xuất nông, lâm, thủy sản và chăn nuôi của nước ta thải ra trong năm 2020 ở mức khoảng 156,8 triệu tấn. Trong đó, 2 lĩnh vực có phụ phẩm lớn là trồng trọt (88,9 triệu tấn) và chăn nuôi (61,4 triệu tấn chất thải). Phụ phẩm trồng trọt thải ra chủ yếu là trong quá trình thu hoạch, như rơm, rạ từ sản xuất lúa, vỏ trấu, cám gạo khi chế biến gạo.

Lĩnh vực lâm nghiệp mỗi năm Việt Nam sản xuất khoảng 30 triệu m3 gỗ tròn, thải ra 3,4 triệu tấn vỏ, cành, lá và quá trình chế biến tạo ra 2,4 triệu tấn mùn cưa.

Về thủy sản, năm 2022 Việt Nam có tổng sản lượng 8,4 triệu tấn, trong đó khai thác là 3,85 triệu tấn, nuôi trồng 4,56 triệu tấn và nhập thêm 1 triệu tấn nguyên liệu về chế biến. Riêng phụ phẩm trong chế biến thủy sản mỗi năm khoảng 1 triệu tấn.

NNTH là giải pháp tối ưu

TS Tống Xuân Chinh cho rằng, cần có thể chế ngưỡng hóa tỷ lệ sử dụng phân vô cơ trong sản xuất nông nghiệp, còn lại là phải sử dụng dụng phân hữu cơ. Từ đó, hướng tới một nền nông nghiệp tăng trưởng xanh, NNHC, NNTH không chất thải. “Theo đánh giá, tiềm năng phụ phẩm nông nghiệp của Việt Nam có thể mang lại giá trị lên đến 4-5 tỷ USD/năm, tuy nhiên năm 2020 chỉ đạt 275 triệu USD. Vì vậy, cần có các chính sách thu hút các doanh nghiệp vào thu gom, xử lý, chế chế biến các phụ phẩm nông nghiệp”, TS Tống Xuân Chinh đề xuất giải pháp.

GS.TS Nguyễn Quang Thạch – Viện trưởng Viện sinh học (Học Viện Nông nghiệp VN) cho rằng, chế biến các phụ phẩm nông nghiệp nếu chỉ dựa vào cách làm truyền thống, như ủ phân hữu cơ thì sẽ rất lâu mà cần ứng dụng công nghệ vào chế biến, nhất là công nghệ men vi sinh. “Với khối lượng 156 triệu tấn phụ phẩm nông nghiệp, sẽ là nguồn nguyên liệu cực kỳ quý. Nếu được chế biến, đưa vào sử dụng sẽ tạo ra một nền NNTH. Đầu ra của quy trình sản xuất này sẽ là đầu vào của quy trình sản xuất khác, cho hiệu quả kinh tế cao hơn”, GS.TS Nguyễn Quang Thạch đánh giá.

Bà Nguyễn Thị Thanh Thủy – Vụ trưởng Vụ khoa học, Công nghệ và Môi trường (Bộ NN&PTNT) nhấn mạnh: Ở góc độ nền kinh tế NNTH gắn với tăng trưởng xanh, phụ phẩm trong nông, lâm, thuỷ sản phải được xem là nguồn tài nguyên tái tạo chứ không phải là chất thải. Nguồn nguyên liệu này cần được xem là đầu vào quan trọng, kéo dài chuỗi giá trị gia tăng trong nông nghiệp.

Theo hoinongnghieptuanhoanvietnam.org.vn

Môi trường sạch, nông nghiệp xanh nhờ tận dụng rác hữu cơ

Rác hữu cơ và phế phụ phẩm nông nghiệp được người nông dân ở TP Huế tận dụng để sử dụng hiệu quả, góp phần bảo vệ môi trường, thúc đẩy nông nghiệp hữu cơ.

Tại HTX Nông nghiệp Dịch vụ Hương Long Saemaul (phường Kim Long, TP Huế), các thành viên đã thu gom rác hữu cơ từ chợ Đông Ba để ủ phân hữu cơ bằng chế phẩm sinh học. Nhờ quy trình khép kín, tuần hoàn và thân thiện với môi trường, các sản phẩm nông nghiệp của HTX giờ đây không chỉ an toàn mà còn góp phần lan tỏa mô hình nông nghiệp xanh, bền vững.

HTX Nông nghiệp Dịch vụ Hương Long Saemaul thu gom rác thải hữu cơ từ chợ Đông Ba đưa về ủ với chế phẩm sinh học thành phân hữu cơ bón cho cây trồng. Ảnh: Văn Dinh.
HTX Nông nghiệp Dịch vụ Hương Long Saemaul thu gom rác thải hữu cơ từ chợ Đông Ba đưa về ủ với chế phẩm sinh học thành phân hữu cơ bón cho cây trồng. Ảnh: Văn Dinh.

Chị Mai Tịnh Thùy, Giám đốc HTX Nông nghiệp Dịch vụ Hương Long Saemaul cho biết, HTX chủ yếu canh tác các loại rau, củ theo VietGAP, hướng hữu cơ. Trung bình mỗi tháng HTX tổ chức 4 chuyến thu gom rác thải hữu cơ từ chợ Đông Ba đưa về ủ với chế phẩm sinh học thành phân hữu cơ bón cho cây trồng. Để đảm bảo chất lượng nông sản, các thành viên HTX phải ký cam kết không sử dụng các loại thuốc trừ sâu, phân bón hóa học, thường xuyên giám sát, kiểm tra quy trình sản xuất.

“Nhờ đó, diện tích rau của HTX đã được cấp chứng nhận sản xuất an toàn, tạo điều kiện thuận lợi để sản phẩm đến tay người tiêu dùng với niềm tin cao hơn. Thời gian tới, cùng với mở rộng diện tích trồng rau, HTX sẽ đầu tư phát triển các mô hình chăn nuôi an toàn. Mục tiêu của HTX là xây dựng hệ sinh thái nông nghiệp khép kín, nơi các nguồn tài nguyên được tái sử dụng hiệu quả, góp phần giảm thiểu ô nhiễm, giảm chi phí, nâng cao giá trị sản phẩm, hướng tới phát triển nông nghiệp bền vững toàn diện”, chị Thùy chia sẻ.

Những năm gần đây, phong trào tận dụng phế phụ phẩm nông nghiệp, rác thải hữu cơ để sản xuất phân bón hữu cơ phục vụ trồng trọt cũng ngày càng lan tỏa tại nhiều địa phương ở TP Huế.

Tại xã Chân Mây – Lăng Cô, ông Trương Viết Hiệp (thôn Thủy Yên Thượng) là một điển hình khi sử dụng chế phẩm Emuniv, Trichodecma để sản xuất phân hữu cơ. Gia đình ông tận dụng bã tràm, trấu, rơm rạ, mùn cưa, cây phân xanh, phân chuồng để ủ phân hữu cơ cho cây trồng rất hiệu quả, từ đó bớt được chi phí mua các loại phân bên ngoài.

“Trước đây gia đình không tận dụng được phế phụ phẩm nông nghiệp hoặc đổ đống ngoài vườn. Hiện nay, phế phẩm nông nghiệp, bã tràm đã chưng cất được sản xuất thành phân hữu cơ và đã bón ngược lại cho cây tràm, lúa, cây ăn quả và rau, giúp cây trồng phát triển rất tốt”, ông Hiệp nói.

Nông dân Huế dự trữ rơm phục vụ chăn nuôi. Ảnh: Văn Dinh.
Nông dân Huế dự trữ rơm phục vụ chăn nuôi. Ảnh: Văn Dinh.

Theo ông Nguyễn Đình Đức – Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường TP Huế, việc người dân trên địa bàn tận dụng phế phụ phẩm nông nghiệp để tái sử dụng trong sản xuất đang mang lại nhiều lợi ích thiết thực, giúp giảm chi phí sản xuất, cải tạo đất canh tác, hướng tới nền nông nghiệp tuần hoàn, phát triển bền vững.

“Với mục tiêu tăng trưởng xanh và bền vững, việc tái sử dụng phế phụ phẩm nông nghiệp được xem là hướng đi cần thiết và lâu dài. Ngành nông nghiệp Thành phố sẽ phối hợp với các đơn vị chuyên môn tổ chức tập huấn, hỗ trợ kỹ thuật, kết nối đầu ra cho sản phẩm nhằm khuyến khích nông dân tiếp tục áp dụng mô hình nông nghiệp thân thiện với môi trường”, ông Đức nhấn mạnh.

Theo bà Hoàng Ngọc Tường Vân, Quản lý Dự án “Huế – Đô thị giảm nhựa ở miền Trung Việt Nam” (WWF – Việt Nam), Dự án đang phối hợp với nhiều hộ dân, HTX trên địa bàn TP Huế hình thành một số mô hình tận dụng phế phụ phẩm nông nghiệp để “tái sinh” thành sản phẩm có giá trị. Đây không chỉ là cách giảm rác thải mà còn là con đường xây dựng kinh tế tuần hoàn, nông nghiệp sạch và lối sống xanh bền vững cho cộng đồng.

Theo Báo Nông Nghiệp và Môi Trường

‘Phế phẩm’ vẫn hái ra tiền

Xơ mướp khô, trái lêkima đến chùm ngây mọc ven rào là những nguyên liệu một thời bị xem là “phế phẩm”, nhưng qua bàn tay sáng tạo của doanh nghiệp, được “lột xác” thành sản phẩm gia dụng, mỹ phẩm, thực phẩm có hàm lượng giá trị gia tăng cao.

Trái lêkima (hay còn gọi là quả trứng gà), loại quả quen thuộc ở Đồng bằng sông Cửu Long lâu nay gần như đứng ngoài chuỗi giá trị. Nhìn thấy tiềm năng bị bỏ ngỏ, chị Đỗ Thị Xuân Diệu ở TP Cần Thơ đã “tái sinh” loại trái cây này thành lêkima sấy dẻo và bột lêkima, biến một sản vật dân dã thành sản phẩm có giá trị gia tăng cao.

Sản phẩm từ trái lêkima mang thương hiệu “DiKa” hiện không chỉ tiêu thụ tốt trên các kênh thương mại điện tử, sản phẩm còn được nhiều kiều bào lựa chọn làm quà mỗi khi về nước.

Từ một loại quả ít được chú ý, lêkima đang dần có chỗ đứng mới trên thị trường, mở ra khả năng đưa đặc sản địa phương bước ra ngoài biên giới, không phải bằng sản lượng, mà bằng giá trị và câu chuyện phía sau sản phẩm.

Nhưng, điều chị Diệu tâm đắc nhất là tạo đầu ra cho lêkima mà bà con nông dân trồng quanh vườn. Giá thu mua lêkima tươi dao động từ 7.000 – 8.000 đồng/kg trong mùa rộ và có thể lên hơn 10.000 đồng/kg vào thời điểm khan hàng.

Theo chị Diệu, đây là loại cây mang lại hiệu quả kinh tế ổn định, đặc biệt với những hộ ít nhân công, bởi chi phí chăm sóc thấp hơn nhiều so với các loại cây ăn trái khác như sầu riêng.

Vợ chồng chị Đỗ Thị Xuân Diệu (TP Cần Thơ) đã “tái sinh” thành công trái lêkima. Ảnh: Quốc Hải

Làm giàu từ tài nguyên bản địa bị ‘lãng quên’

Năm nay cũng là năm đầu tiên, Công ty THHH Quốc tế DiKa Happy của chị Diệu được công nhận danh hiệu “Hàng Việt Nam chất lượng cao”. Đây cũng là cơ sở để chị Diệu tự tin đầu tư và phát triển sản phẩm từ trái lêkima ra thị trường mạnh mẽ hơn nữa.

“Sản phẩm hiện đã có mặt tại một số cửa hàng đặc sản ở Hà Nội, Thái Nguyên và được ưa chuộng làm quà biếu, đặc biệt trong dịp Tết. Nhiều khách hàng đánh giá lêkima sấy dẻo phù hợp khi dùng cùng trà, trong khi kiều bào cũng lựa chọn sản phẩm như một món quà mang đậm dấu ấn quê hương”, chị Diệu tự hào.

Cùng xuất hiện tại các gian hàng trong buổi lễ công bố Hàng Việt Nam chất lượng cao 2026 tổ chức mới đây, có hàng loạt các doanh nghiệp startup với các gia dụng, mỹ phẩm, thực phẩm… được phát triển từ nguồn tài nguyên bản địa.

Tại gian hàng của Làng Mướp, nhiều sản phẩm như giày dép, túi, búp bê… với vẻ đẹp tinh tế, thu hút người mua. Từ phần xơ còn lại của trái mướp già – thứ từng bị xem là phế phẩm – một chuỗi giá trị mới đang được hình thành. Không dừng ở miếng rửa chén quen thuộc, xơ mướp được “nâng cấp” thành bông tắm, cây chà lưng, đồ chơi thú cưng, thậm chí trở thành hoa khô, quà lưu niệm, lồng đèn hay chụp đèn ngủ với thiết kế ngày càng tinh tế, bắt mắt.

Đằng sau sự “lột xác” đó là quy trình xử lý bài bản: nguyên liệu sau thu mua được làm sạch, tách vỏ, phơi khô, xử lý ẩm mốc nghiêm ngặt trước khi đưa vào cán, dập khuôn theo từng mẫu thiết kế.

Giá trị của xơ mướp vì thế không còn nằm ở phần thô sơ ban đầu, mà ở khả năng sáng tạo và chế biến. Khi một phụ phẩm nông nghiệp được khai thác đến tận cùng, bài toán không chỉ là tăng giá trị sản phẩm, mà còn là giảm lãng phí và mở ra hướng đi bền vững cho sản xuất.

Không dừng lại ở lĩnh vực thực phẩm, nhiều nguyên liệu quen thuộc đang được “mở khóa” sang không gian mới: chăm sóc sức khỏe và làm đẹp.

Các sản phẩm của Làng Mướp. Ảnh: Quốc Hải

Tại Tây Ninh, anh Phạm Ngọc Anh Tuấn đã nhìn thấy giá trị khác biệt từ chùm ngây, loại cây mọc ven rào vốn bị xem là bình thường. Từ nguyên liệu này, anh phát triển một hệ sản phẩm đa dạng, từ trà, bánh, nước giải nhiệt đến chiết xuất tinh dầu để sản xuất mỹ phẩm như son dưỡng, sản phẩm chăm sóc da.

Điểm chung của các sản phẩm là nguồn gốc tự nhiên, an toàn và phù hợp xu hướng tiêu dùng xanh. Nhờ đó, chúng nhanh chóng được thị trường đón nhận, đặc biệt là nhóm khách hàng nữ – những người ngày càng ưu tiên các sản phẩm “lành tính” và minh bạch về thành phần.

“Từ một loại cây dân dã, chùm ngây đang được tái định vị như một nguyên liệu đa giá trị, cho thấy dư địa lớn của nông sản Việt khi được đặt trong đúng hệ sinh thái sáng tạo”, anh Tuấn chia sẻ.

Ông Nguyễn Lâm Viên, Tổng giám đốc Công ty CP Vinamit, nhìn nhận lợi thế lớn nhất của Việt Nam nằm ở nguồn tài nguyên bản địa phong phú, nhưng chính sự dồi dào đó lại vượt quá khả năng khai thác của từng doanh nghiệp đơn lẻ. Theo ông, nông nghiệp không thể phát triển theo kiểu “mạnh ai nấy làm”, mà cần một hệ sinh thái doanh nghiệp cùng tham gia, cùng đầu tư và cùng nâng cấp chuỗi giá trị.

“Khi có đủ lực lượng đồng hành, nông sản Việt mới có thể thoát khỏi vòng lặp xuất thô, tiến tới chế biến sâu và tạo ra những sản phẩm có giá trị gia tăng cao”, ông nói và nhấn mạnh, đó cũng là con đường để nông sản Việt không chỉ phục vụ thị trường nội địa, mà còn đủ sức cạnh tranh và định vị trên thị trường quốc tế bằng chất lượng, câu chuyện và giá trị bền vững.

Các đại biểu thưởng thức sản phẩm trà thảo mộc tại gian hàng của Công ty Én Việt PCL. Ảnh: Trần Quỳnh

“Đừng chỉ làm ra sản phẩm tốt, hãy làm ra niềm tin”

Câu chuyện về các doanh nghiệp startup và xa hơn là các doanh nghiệp Việt đang đầu tư và nâng cấp chuỗi giá trị, để đứng vững trong bối cảnh khó khăn hiện nay là những bài học đáng tham khảo. Tuy nhiên, theo ông Lê Minh Hoan, Phó chủ tịch Quốc hội, hành trình của hàng Việt không chỉ là câu chuyện sản xuất, mà trước hết là hành trình khôi phục và bồi đắp niềm tin.

“Đã có lúc niềm tin của người tiêu dùng rất mong manh, nhưng chính cộng đồng doanh nghiệp đã góp phần hàn gắn lại điều đó. Cuối cùng, khi mọi thứ có thể mất đi, thứ còn lại chính là thương hiệu”, ông nhấn mạnh.

Trong bối cảnh tiêu dùng thay đổi nhanh chóng, ông Hoan chỉ ra rằng người mua không còn quyết định đơn thuần dựa trên giá hay chất lượng, mà ngày càng đặt trọng tâm vào niềm tin và nhận thức. Điều này cũng đồng nghĩa, tăng trưởng nếu không đi kèm tính bền vững sẽ sớm bào mòn nền tảng phát triển của doanh nghiệp.

Nhìn lại 30 năm của chương trình “Hàng Việt Nam chất lượng cao”, theo ông Hoan, doanh nghiệp Việt đã từng bước gây dựng lại niềm tin trong nước, đưa hàng Việt từ vị thế bị hoài nghi trở thành lựa chọn quen thuộc. Không ít thương hiệu đã vươn ra quốc tế, mang theo không chỉ sản phẩm mà còn cả câu chuyện về giá trị bản địa: từ hạt gạo, con tôm đến ly cà phê.

Tuy nhiên, theo ông Hoan, mục tiêu trong giai đoạn tới của các doanh nghiệp Việt không dừng lại ở việc giữ niềm tin trong nước, mà phải nâng lên một nấc thang mới: xây dựng niềm tin của thị trường toàn cầu đối với hàng Việt.

“Doanh nghiệp không chỉ tạo ra sản phẩm tốt, mà phải kiến tạo niềm tin như một tài sản cốt lõi, bền vững”, ông Hoan nói.

Xa hơn, ông Hoan hình dung một trạng thái mà sản phẩm Việt khi xuất hiện trên thị trường quốc tế sẽ được đón nhận bằng “niềm tin mặc định” từ người tiêu dùng. Khi đó, thành công không chỉ thuộc về từng doanh nghiệp riêng lẻ, mà là sự phản chiếu vị thế và uy tín của cả nền kinh tế Việt Nam.

Theo The Leader

Lãng phí thực phẩm và gánh nặng môi trường: Câu chuyện từ những bữa ăn

Giữa lòng Hà Nội phồn hoa, những bàn ăn tràn ngập món ngon đã trở thành biểu tượng của sự sung túc. Thế nhưng, sau mỗi bữa tiệc xa hoa, mỗi bữa cơm thừa là những túi rác nặng trĩu, không đơn thuần chỉ là thức ăn bỏ đi mà còn âm thầm trở thành gánh nặng môi trường khổng lồ mà ít ai nhìn thấy.

Lãng phí thực phẩm không chỉ là câu chuyện của bữa ăn, mà còn là một lát cắt phản chiếu lối sống, hệ thống tiêu dùng và cách con người
đang đối xử với tài nguyên Trái đất.

Khi “miếng ngon” hóa “gánh nặng môi trường”

Buổi tối cuối tuần, nhà hàng buffet trên đường Nguyễn Hoàng (quận Nam Từ Liêm, Hà Nội) đông nghẹt người. Không khí bên trong mát lạnh, sáng rực dưới ánh đèn vàng. Dòng người nối nhau đi dọc quầy thức ăn, đĩa trên tay luôn đầy ắp, từ sushi, tôm hùm, cá hồi, các loại thịt hảo hạng, salad, đến bánh ngọt… Mỗi người chọn đủ món, như thể chỉ sợ bỏ lỡ một “miếng ngon” nào đó.

Anh Nguyễn Đình Tuấn (42 tuổi, Hà Nội), người đã gắn bó với bếp của nhà hàng hơn 6 năm, vừa quan sát khách hàng vừa khẽ thở dài. “Cứ đến cuối tuần, lượng đồ ăn thừa nhiều gấp đôi ngày thường. Có hôm, chúng tôi phải đổ bỏ gần 100 ký thực phẩm, nhiều đĩa đồ ăn còn y nguyên.” Anh Tuấn chỉ về những khay đồ ăn bị bỏ lại: “Có đĩa thịt nướng vẫn còn 3–4 miếng, có đĩa sushi chỉ bị gắp dở một miếng rồi để lại. Nhiều người lấy đầy tay, rồi ăn vài miếng lại bỏ. Họ nghĩ trả tiền rồi nên muốn lấy bao nhiêu cũng được.”

cream-grey-minimalist-collage-just-sold-real-estate-facebook-post.png
Bữa tiệc ánh sáng và thức ăn – Nơi mọi người tranh nhau lấy thật nhiều, đôi khi quá nhiều so với nhu cầu

Khi nhà hàng đóng cửa, nhóm nhân viên dọn dẹp tất bật gom rác. Tiếng nhựa, tiếng thủy tinh va vào nhau chan chát. Một chiếc thùng rác to bằng nửa người chứa đầy những thứ từng là món ăn hảo hạng: Cá hồi, bánh mì, rau củ… tất cả trộn lẫn thành hỗn hợp ướt át, bốc mùi nồng. “Chúng tôi phải đổ riêng ra túi đen, sáng hôm sau xe rác sẽ đến chở đi” – Anh Tuấn nói. “Có món mới bỏ cách đây vài tiếng, vẫn còn nóng, mà cũng phải vứt.”

Chị Nguyễn Mai (26 tuổi, Hưng Yên) – Nhân viên phục vụ của nhà hàng chia sẻ: “Tôi đi làm mới thấy rõ, lượng thức ăn người ta bỏ đi nhiều kinh khủng. Có hôm nhìn mà xót. Cứ tưởng là nhà hàng được ăn lại đồ dư, nhưng không được phép. Thế là đổ hết đi”.

blue-yellow-and-white-modern-summer-sale-facebook-post.png

Những “bữa tiệc thừa” ấy diễn ra hàng ngày giữa trung tâm Hà Nội, nơi mỗi đêm, xe chở rác nối đuôi nhau hướng về các bãi tập kết đã quá tải của thành phố.

Tình cảnh này không chỉ diễn ra ở các nhà hàng, quán ăn. Theo chân PV đến khu chợ đầu mối Long Biên vào một buổi chiều muộn, khung cảnh buôn bán vẫn tấp nập, xe hàng ra vào liên tục. Trên nền sàn ướt át, giữa những sọt rau quả tươi ngon là những thùng rau dập, hoa quả thối – “phế phẩm” còn sót lại sau một ngày giao dịch. “Ngày nào chẳng có vài tạ bị bỏ đi. Nhiều khi chỉ dập một góc mà người ta không mua, chúng tôi cũng đành đổ bỏ,” chị Bùi Xuân Hòa (36 tuổi, Hà Nội) – một tiểu thương bán rau tại chợ chia sẻ. Hình ảnh ấy lặp lại ở hàng trăm khu chợ, siêu thị, nhà hàng trong thành phố.

screenshot-2025-11-12-191632.png

Theo thống kê mới nhất, mỗi năm Việt Nam lãng phí hơn 8 triệu tấn thực phẩm, trong đó phần lớn vẫn còn ăn được hoặc có thể tận dụng. Con số khổng lồ ấy không chỉ khiến đất nước tổn thất khoảng 3,9 tỷ USD, tương đương gần 2% GDP, mà còn khiến Việt Nam trở thành quốc gia đứng thứ hai ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương về mức độ lãng phí thực phẩm.

tac-dong-cua-con-nguoi-den-ban-thuyet-trinh-khoa-hoc-he-thong-cua-trai-dat-theo-phong-cach-so-luu-niem-mau-nau-nhat.png

Theo PGS.TS Bùi Thị An, chính sự thay đổi trong thói quen và nhận thức đã khiến thực phẩm vốn là nguồn tài nguyên quý giá trở thành rác thải chỉ sau vài giờ xuất hiện trên bàn ăn.

Một vòng lãng phí vô hình

Nếu ở nhà hàng, thực phẩm bị lãng phí bởi thói quen “ăn cho biết, lấy cho đủ”, thì trong các gia đình, sự lãng phí lại đến từ nếp nghĩ “ăn dư cho sang”.

z7217257372237_14b7046f43603c6196b75dacfd70d6f2.jpg
Anh Nghiêm Văn Chính bên gian bếp nhỏ của gia đình – Nơi những bữa cơm “dư một chút cho yên tâm” dần trở thành thói quen khó bỏ của nhiều hộ gia đình thành thị

Trong căn hộ chung cư ở phường Phú Diễn (Hà Nội), anh Nghiêm Văn Chính (32 tuổi, Hà Nội) một nhân viên văn phòng đang dọn cơm tối. Bữa cơm gia đình anh có 4 người, nhưng bàn ăn bày đến 6 món: Canh, thịt luộc, giò, rau xào, đậu phụ,… thêm cả đồ ăn cũ từ ngày hôm trước. “Thói quen của tôi là nấu dư một chút, để phòng vợ hoặc con ăn thêm,” anh nói. Nhưng thực tế, bữa ăn kết thúc khi nồi cơm còn gần nửa, những đĩa thức ăn còn ngổn ngang. “Ngày nào cũng thừa, mà để lại thì hỏng, nên tôi đành đổ đi.”

Anh Chính kể: “Tôi biết là lãng phí, nhưng thành thói quen rồi. Hơn nữa, thấy đĩa cơm đầy đủ thì yên tâm, còn thiếu món lại sợ khách chê.” Câu nói tưởng chừng bình thường ấy lại chính là chân dung của hàng triệu gia đình thành thị, nơi sự no đủ đôi khi vượt quá nhu cầu thực tế, và sự tiện nghi khiến con người dễ quên đi công sức phía sau một bát cơm.

Có tới 87% hộ gia đình thừa nhận đã lãng phí ít nhất hai dĩa thức ăn mỗi tuần. Cơm, bún, phở, mì chiếm tỷ trọng cao nhất trong thực phẩm bị bỏ đi (68%), tiếp theo là thịt cá đã nấu chín (53%) và rau củ (44%).

Điều này bắt nguồn từ nhiều yếu tố văn hóa và tâm lý đặc thù: Thói quen “nấu dư để có phần cho người vắng mặt”, tâm lý sĩ diện trong tiệc tùng – “để thừa cho sang”, hay đơn giản là 49% người tiêu dùng quên mất đồ ăn để trong tủ lạnh đến khi hư hỏng.

Theo Food Bank Việt Nam

Ở những bữa tiệc cưới, sinh nhật, lễ hội – nơi người ta thích thể hiện sự hiếu khách bằng mâm cỗ đầy ắp, lượng thức ăn bị bỏ đi có khi lên tới 30–40% tổng số thực phẩm chế biến. Một nhân viên dọn tiệc tại Trung tâm hội nghị quốc gia chia sẻ: “Có tiệc 500 khách, sau khi khách ra về, chúng tôi gom lại gần 100 kg đồ ăn thừa, trong đó nhiều món còn nguyên.”

nhp_3757-copy.jpg
Mâm cỗ cưới đầy ắp món ăn – biểu trưng của sự hiếu khách trong văn hóa Việt nhưng cũng là “điểm nóng” của tình trạng lãng phí thực phẩm sau mỗi buổi tiệc

Rõ ràng, sau khi những bữa ăn kết thúc, câu chuyện lãng phí vẫn chưa dừng lại. Những túi rác đen chứa đầy cơm thừa, rau bỏ được người dân mang đi vứt. Những công nhân vệ sinh lại gom lại, chất lên xe rác. “Mỗi ngày chúng tôi thu vài tấn rác chỉ từ các hộ dân. Mùi hôi từ rác thực phẩm kinh khủng lắm, nhất là mùa hè,” bà Chi (60 tuổi, Hà Nội), công nhân thu gom rác tại phường Yên Hòa chia sẻ.

Mối hiểm họa khôn lường đối với khí hậu và môi trường

Ít ai nghĩ rằng, những phần cơm thừa hay chén canh bỏ lại trên bàn ăn lại đang âm thầm góp phần làm nóng lên hành tinh này.

Khoảng 31% tổng lượng phát thải khí nhà kính toàn cầu xuất phát từ hệ thống nông sản thực phẩm, từ khâu sản xuất, chế biến, vận chuyển cho đến tiêu thụ. Dù được ăn hay bị vứt bỏ, thực phẩm vẫn để lại một “dấu chân carbon” khổng lồ.

Theo Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hợp quốc (FAO)

Khi rác thải thực phẩm bị chôn lấp, quá trình phân hủy trong điều kiện yếm khí tạo ra khí metan (CH₄) — loại khí gây hiệu ứng nhà kính mạnh gấp 25 lần CO₂. Ở nhiều quốc gia, bãi rác thực phẩm đã trở thành “kho phát thải” metan khổng lồ, chiếm tới 15% lượng phát thải metan toàn quốc. Tại Việt Nam, phần lớn rác thực phẩm vẫn bị chôn trực tiếp, không qua phân loại hay thu hồi khí thải, khiến mỗi bữa cơm thừa vô tình “gửi thêm” vào bầu khí quyển một phần khí nóng lên toàn cầu.

tac-dong-cua-con-nguoi-den-ban-thuyet-trinh-khoa-hoc-he-thong-cua-trai-dat-theo-phong-cach-so-luu-niem-mau-nau-nhat-1-.png

Theo PGS.TS Bùi Thị An, để khắc phục, cần hướng đến việc phân loại và xử lý rác hữu cơ tại nguồn, biến chất thải thành tài nguyên, thay vì để tự phân hủy. “Sau phân loại và thu gom, cần áp dụng công nghệ sản xuất phân bón hoặc khí sinh học, đó là cách biến rác thành tài nguyên, chứ không phải để nó trở thành nguồn ô nhiễm,” bà nói.

Nhưng khí nhà kính chỉ là một phần của câu chuyện. Phía sau mỗi món ăn bị bỏ đi là một khối tài nguyên khổng lồ bị tiêu hao vô ích.

Hơn 1/4 diện tích đất nông nghiệp toàn cầu được dùng để sản xuất thực phẩm không bao giờ được ăn. Hàng tỷ lít nước ngọt, hàng triệu lít nhiên liệu hóa thạch, điện năng, và phân bón bị sử dụng mà không mang lại giá trị thực.

Theo Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hợp quốc (FAO)

Ở Việt Nam, chỉ riêng sản xuất lúa gạo – ngành tiêu thụ nước lớn nhất, mỗi năm đã thất thoát hàng triệu tấn do bảo quản kém và tiêu dùng dư thừa. Điều đó đồng nghĩa với việc hàng tỷ mét khối nước ngọt và hàng chục nghìn ha đất canh tác đã bị “nuốt chửng” một cách lãng phí.

Không dừng lại ở đó, rác thải thực phẩm còn là nguồn phát tán vi nhựa tiềm ẩn. Nhiều thực phẩm bị vứt đi kèm bao bì nhựa, khi phân hủy sẽ giải phóng hàng trăm nghìn mảnh vi nhựa vào đất, nước, rồi quay trở lại bàn ăn của chính con người qua chuỗi thực phẩm. Một vòng luẩn quẩn khó dứt.

unnamed-1-.png
Khi con người khai thác đất, nước, rừng để sản xuất dư thừa, môi trường sống tự nhiên của nhiều loài bị mất đi

Lãng phí thực phẩm cũng đồng nghĩa với sự hủy hoại đa dạng sinh học. Khi con người khai thác đất, nước, rừng để sản xuất dư thừa, môi trường sống tự nhiên của nhiều loài bị mất đi. Ở Việt Nam, việc mở rộng diện tích trồng lúa, cây công nghiệp và nuôi trồng thủy sản quá mức đã góp phần thu hẹp rừng tự nhiên, khiến nhiều loài đặc hữu như voọc chà vá chân nâu, cu li hay các loài chim quý hiếm mất nơi sinh sống.

Tất cả những điều đó cộng hưởng thành một “hóa đơn môi trường” khổng lồ mà thế giới và cả Việt Nam đang phải trả: Không chỉ là lượng khí thải khổng lồ, mà còn là đất đai thoái hóa, nguồn nước suy kiệt, đa dạng sinh học mất mát và hệ sinh thái bị tổn thương.

Khi nhận thức thay đổi, hành động sẽ bắt đầu

Trên thế giới, nhiều quốc gia đã xem giảm lãng phí thực phẩm là một trụ cột của chiến lược ứng phó biến đổi khí hậu.

Pháp ban hành luật cấm siêu thị vứt bỏ đồ ăn còn dùng được, yêu cầu tặng lại cho tổ chức từ thiện hoặc tái chế làm thức ăn chăn nuôi. Nhật Bản triển khai chiến dịch “Mottainai” – một khái niệm văn hóa khuyến khích trân trọng tài nguyên, coi việc bỏ thừa là hành động đáng xấu hổ. Các nước Bắc Âu phát triển hệ thống “ngân hàng thực phẩm”, thu gom và phân phối thực phẩm thừa cho người nghèo, đồng thời ứng dụng công nghệ sinh học để tái chế rác hữu cơ thành năng lượng sinh học.

thiet-ke-chua-co-ten-01.jpg
Với mô hình “cứu trợ thực phẩm”, dự án Hanoi Food Rescue (Biệt đội giải cứu đồ ăn) đã đem hơn 80.000 suất cơm miễn phí đến với người có hoàn cảnh khó khăn

Tại Việt Nam, những nỗ lực còn khiêm tốn nhưng đang dần xuất hiện. Dự án “Hanoi Food Rescue” (Biệt đội giải cứu đồ ăn) do nhóm sinh viên khởi xướng từ năm 2013 đã cứu hàng trăm tấn thực phẩm từ các nhà hàng, khách sạn, phân phối và chia sẻ cho những người có hoàn cảnh khó khăn.

Nhiều người dân tại các địa phương đã thực hiện việc phân loại rác tại nguồn, hay ủ rác hữu cơ thành phân bón. Tuy quy mô chưa lớn, song những sáng kiến ấy cho thấy nhận thức đang dần thay đổi.

Trong nhiều trường học, giáo viên lồng ghép bài học về tiết kiệm thực phẩm vào hoạt động ngoại khóa. “Trẻ con bây giờ học rất nhanh. Mỗi khi ăn cơm, các em tự giác lấy vừa đủ, nhắc nhau không bỏ thừa,” cô Trần Hồng Chúc (34 tuổi, Hà Nội), giáo viên tiểu học ở phường Láng (Hà Nội) chia sẻ.

Những hạt giống nhỏ của ý thức nếu được gieo trồng bền bỉ có thể tạo thành thay đổi lớn trong tương lai. Bởi lãng phí thực phẩm không chỉ là câu chuyện đạo đức, mà còn là một bài toán phát triển bền vững. Khi thực phẩm bị vứt đi, không chỉ nguồn lực kinh tế mất đi, mà đất, nước, năng lượng – những yếu tố nuôi sống con người cũng bị lãng phí theo.

tac-dong-cua-con-nguoi-den-ban-thuyet-trinh-khoa-hoc-he-thong-cua-trai-dat-theo-phong-cach-so-luu-niem-mau-nau-nhat-2-.png
tac-dong-cua-con-nguoi-den-ban-thuyet-trinh-khoa-hoc-he-thong-cua-trai-dat-theo-phong-cach-so-luu-niem-mau-nau-nhat-3-.png

Và có lẽ, điều cần nhất là sự đồng lòng từ chính mỗi bữa cơm gia đình. Hành động nhỏ như lên kế hoạch mua sắm hợp lý, ăn vừa đủ, bảo quản đúng cách… có thể góp phần tạo nên thay đổi lớn. Khi xã hội biết trân trọng từng hạt gạo, từng cọng rau, nghĩa là con người đã học lại cách sống hòa hợp với tự nhiên – điều mà thế hệ đi trước từng coi là lẽ hiển nhiên.

Theo Môi Trường và Cuộc Sống

Lén chôn 6 loại bã xuống vườn, ai cũng ngạc nhiên khi thấy kết quả

Những loại thực phẩm bỏ đi dưới đây có thể tái sử dụng làm phân bón cực tốt vì chúng không những cung cấp đầy đủ các dưỡng chất giúp cây phát triển toàn diện mà còn giúp đuổi một số côn trùng có hại cộng thêm giúp các vi sinh vật có ích trong đất phát triển.

Bất kỳ loại cây trồng nào muốn xanh tốt cũng cần phải được chăm sóc và bón phân định kỳ đầy đủ. Hiện nay trên thị trường có bán khá nhiều loại phân bón khác nhau, tuy nhiên, thay vì phải bỏ tiền mua tại sao bạn không tận dụng ngay những thứ được coi là phân bón tự nhiên có sẵn trong nhà như trứng, vỏ chuối, thức ăn thừa,… để bón cho cây, vừa tiết kiệm lại vừa đem lại hiệu quả bất ngờ đấy.

Một ngày nào đó, nếu thấy cây trong vườn có dấu hiệu kém phát triển, khô héo, thiếu sức sống, hãy thử chôn một quả trứng xuống đất vườn, tưởng chừng vô ích nhưng vài tuần sau bạn sẽ thấy điều thần kỳ xảy ra.

Quả trứng “thần kỳ” thế nào mà ai cũng muốn chôn ngay xuống vườn, kể cả là quả trứng đã vỡ.

Phân bón từ trứng và vỏ trứng

Đặt 1 quả trứng xuống đất trồng cây, thời gian sau bạn sẽ thấy cây xanh tốt, phát triển nhanh hơn nhiều.

Cách làm vô cùng đơn giản mà ai cũng có thể làm được. Chọn nơi bạn muốn trồng cây hoặc chọn vị trí có những cây kém phát triển mà bạn muốn bón phân, sau đó đào một hố sâu khoảng 50-60cm. Đặt một quả trứng nguyên vẹn hoặc đã nứt vỏ xuống hố, nếu muốn trồng cây hãy đặt luôn những hạt giống mới xuống cùng vị trí quả trứng, sau đó lấp đất lại.

Vậy tại sao trứng có thể thay thế phân bón cho cây? Trong thành phần của trứng và đặc biệt là vỏ trứng có chứa hàm lượng canxi rất lớn, cùng với các chất bổ dưỡng khác là “thức ăn” hữu cơ cần thiết cho cây trồng. Ngoài ra, sử dụng trứng bón cho cây còn giúp chống lại hiện tượng thối rữa rễ cây.

Ngoài ra, bạn cũng có thể sử dụng vỏ trứng nghiền nát rải quanh gốc cây, cung cấp canxi và chất bổ dưỡng cho cây.

Hơn nữa, trứng tươi hay đã hết hạn đều có thể được sử dụng bón cho cây mà không làm ảnh hưởng đến chất lượng cây trồng, vì thế bạn sẽ chẳng phải lo lắng mà cứ lấy bất kỳ quả trứng nào có sẵn trong nhà để bón cho cây, thậm chí là vỏ trứng đã qua sử dụng.

Ngoài cách sử dụng quả trứng để bón cho cây, các gia đình cũng có thể áp dụng một số nguyên vật liệu dưới đây để thay thế phân bón cây trồng:

Phân bón từ vỏ chuối

Vỏ chuối là một loại phân bón cần thiết đối với nhiều cây trồng trong vườn nhà, bởi nó chứa nhiều phốt pho và kali – những chất dinh dưỡng quan trọng cho sự phát triển của thực vật. Đối với cây sống trong không gian nhỏ như chậu, nếu bón vỏ chuối trực tiếp sẽ làm rễ bị thối.

Do vậy, vỏ chuối cần phải sơ chế bằng cách xay nhuyễn với một nhúm muối hạt (hoặc nước vo gạo) và vài mảnh vỏ trứng để bổ sung canxi cho cây. Sau khi xay nhuyễn đem chúng trộn với đất và để đất nghỉ khoảng một tuần, không nên lạm dụng bón quá nhiều.

Phân bón từ vỏ chuối hoặc bã cà phê.

Phân bón từ thức ăn thừa

Các loại thực phẩm thừa như rau, vỏ trái cây, vỏ trứng, giấy, trà túi lọc, nước vo gạo… đều có thể giữ lại làm phân bón nhưng nên được đựng và ủ trong thùng xốp hoặc thùng nhựa có nắp đậy. Hỗn hợp trên có thể ủ trong một vài tuần hoặc lâu hơn, sau đó chắt lấy nước sang một thùng khác để tưới cho rau, phần bã đã ủ dùng để bón cho cây với liều lượng vừa đủ.

Thức ăn thừa như  rau, vỏ trái cây, vỏ trứng, giấy, trà túi lọc, nước vo gạo,… cũng có thể tận dụng làm phân bón hữu cơ cho cây trồng.

Phân bón từ bã chè, bã cà phê

Chỉ cần đợi nguội, chắt hết nước có trong bã chè, bã cà phê rồi rải bã xuống gốc cây có thể giúp ngăn chặn sự tấn công của các loại côn trùng hoặc ốc sên.

Các loại cây ưa sống trong môi trường đất axit như hoa hồng, khoai lang, khoai tây, nha đam… rất chuộng loại phân bón từ bã cà phê.

Theo Báo Dân Việt

Biến phụ phẩm thành tài nguyên: Hành trình xanh của nông nghiệp

Từ rơm rạ, vỏ cà phê đến bã mía, phụ phẩm nông nghiệp đang được tái sinh thành tài nguyên mới, mở ra hành trình xanh hóa và giảm phát thải cho ngành trồng trọt.

Mùa gặt ở Đồng bằng sông Hồng, khói rơm rạ không còn phủ trắng những con đê như vài năm trước. Thay vào đó, các xe thu gom nối đuôi nhau chở rơm đến nhà máy sản xuất phân hữu cơ ở Ninh Bình, Hưng Yên, Hải Phòng hay tới những trang trại chăn nuôi bò sữa.

Ở Đồng bằng sông Cửu Long, vỏ trấu và bã mía được ép thành viên nén sinh học xuất khẩu sang Nhật Bản. Hàng chục năm trước, những thứ ấy bị xem là rác thải nông nghiệp nhưng hôm nay chúng đã trở thành nguồn tài nguyên mới của nông nghiệp tuần hoàn.

Người dân phối trộn rơm rạ cùng các loại phân tạo thành phân bón hữu cơ. Ảnh: Bảo Thắng.
Người dân phối trộn rơm rạ cùng các loại phân tạo thành phân bón hữu cơ. Ảnh: Bảo Thắng.

Khái niệm tuần hoàn vốn không xa lạ với nông dân Việt Nam. Trong quá khứ, người ta vẫn quen tận dụng phụ phẩm làm chất đốt, thức ăn chăn nuôi hoặc bón lại cho ruộng. Nhưng trong thời đại phát thải thấp, nông nghiệp tuần hoàn đã được nâng lên một tầm mới: một mô hình sản xuất khép kín, không bỏ phí tài nguyên và không tạo thêm gánh nặng cho môi trường.

Điều này càng trở nên cấp bách khi nông nghiệp Việt Nam mỗi năm thải ra hàng trăm triệu tấn phụ phẩm, theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường. Riêng trồng trọt tạo ra khoảng 160 triệu tấn phụ phẩm (rơm rạ, thân ngô, vỏ cà phê, bã mía, vỏ điều, phân gia súc…), tương đương 20% tổng phát thải khí metan của quốc gia.

Những năm gần đây, phụ phẩm, chất thải trong nông nghiệp đã biến thành “vàng” khi được tận dụng làm phân hữu cơ, vật liệu sinh học, nhiên liệu tái tạo và nguyên liệu cho công nghiệp chế biến. Tại Ninh Bình, nhiều mô hình thu gom rơm rạ sau thu hoạch do Trung tâm Khuyến nông tỉnh này triển khai đã giúp giảm 80% hiện tượng đốt đồng, mỗi hecta thu về 1,5 – 2 triệu đồng từ bán rơm.

Niềm vui càng nhân lên từ mô hình do Viện Nghiên cứu Lúa gạo Quốc tế (IRRI) phối hợp với Hợp tác xã Sản xuất Kinh doanh và Dịch vụ nông nghiệp Nam Cường (Ninh Bình) thực hiện từ giữa năm 2024. Theo đó, người dân được tập huấn xử lý rơm rạ làm phân hữu cơ theo công thức rơm trộn tỷ lệ 60% với phân bò 30% và đất 10, phun men vi sinh, ủ khoảng 45 ngày với độ ẩm 50 – 60 % và nhiệt độ khoảng 50 – 70 °C.

Kết hợp máy trộn tự hành có công suất 138 – 300 m³/lần, thời gian ủ rút xuống bằng một nửa phương pháp truyền thống. Ủ tốt sẽ đạt tỷ lệ C/N khoảng 13 – 14,5 và pH 6,8 – 7,2, sau đó sản phẩm được ép viên hoặc đóng gói sử dụng trực tiếp trên đồng ruộng.

Những cách tận dụng phế phụ phẩm như vậy xuất hiện ngày một nhiều. Tại Sóc Trăng, mô hình “3 lợi ích” – không đốt rơm, sản xuất phân hữu cơ và trồng rau màu luân canh giúp giảm phát thải hơn 5 tấn CO₂ mỗi hecta. Tại Đắk Lắk, các hợp tác xã cà phê đầu tư dây chuyền ủ vỏ quả và bã cà phê thành phân vi sinh, vừa tiết kiệm chi phí, vừa cải tạo đất. Những chu trình khép kín như vậy đang lan rộng trên khắp vùng trồng trọt, từ đồng bằng đến trung du, từ cây lúa đến cây công nghiệp.

Máy phối trộn rơm rạ do IRRI tài trợ tại Ninh Bình. Ảnh: Bảo Thắng.
Máy phối trộn rơm rạ do IRRI tài trợ tại Ninh Bình. Ảnh: Bảo Thắng.

Theo Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, nếu 50% phụ phẩm nông nghiệp được xử lý và tái sử dụng hiệu quả, Việt Nam có thể giảm khoảng 40 triệu tấn CO₂ mỗi năm. Đây là một trong những biện pháp quan trọng để thực hiện cam kết Net Zero 2050. Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã đưa nông nghiệp tuần hoàn vào chiến lược tăng trưởng xanh với mục tiêu đến năm 2030 ít nhất 30% phụ phẩm nông nghiệp được thu gom và tái chế, trong đó 20% dùng làm phân hữu cơ, 10% dùng làm nhiên liệu sinh học.

Trên thực tế, nhiều địa phương đã chứng minh điều đó là khả thi. Ở Đồng Nai, các trang trại bò sữa của Vinamilk và TH True Milk áp dụng mô hình “từ đồng cỏ đến ly sữa”. Cỏ được trồng bằng phân hữu cơ ủ từ chất thải bò, chất thải lỏng được xử lý thành biogas, phần bã còn lại làm phân cho cây trồng. Mô hình này giúp tiết kiệm 25% chi phí đầu vào, đồng thời giảm phát thải metan.

Ở Bắc Ninh, nhiều hợp tác xã đã tận dụng phụ phẩm chăn nuôi kết hợp trồng cây ăn quả, hình thành chuỗi “3F tuần hoàn” (Feed – Farm – Fruit). Ở An Giang và Tây Ninh, chương trình “Không đốt rơm rạ – giữ khí trời trong lành” được người dân hưởng ứng mạnh khi họ nhận thấy đốt rơm vừa lãng phí, vừa gây ngạt bụi cho chính mình.

Quan trọng hơn những con số là sự thay đổi trong tư duy. Nông dân giờ không còn xem phụ phẩm là thứ bỏ đi mà là phần nối dài của vụ mùa. Khi rơm rạ được thu gom để sản xuất phân, người ta nói “cánh đồng sống thêm một vòng”. Khi vỏ cà phê, bã mía trở thành nguyên liệu công nghiệp, người ta nói “đất đã học cách tái sinh”. Trong mỗi quy trình khép kín ấy, không chỉ có kinh tế mà còn là đạo lý của nghề nông – trả lại cho đất những gì mình lấy đi.

Để thúc đẩy quá trình này, các viện nghiên cứu đang phát triển công nghệ ủ nhanh, lên men vi sinh và sản xuất phân bón sinh học từ phụ phẩm. Viện Môi trường Nông nghiệp đang phối hợp với JICA và FAO thử nghiệm quy trình sản xuất than sinh học từ rơm rạ, giúp tăng khả năng giữ ẩm và hấp thu dinh dưỡng của đất. Bộ Nông nghiệp và Môi trường cũng khuyến khích hình thành các cụm “trung tâm chế biến phụ phẩm nông nghiệp” ở từng vùng chuyên canh, nơi doanh nghiệp, hợp tác xã và nông dân cùng tham gia. Mục tiêu không chỉ là giảm phát thải mà còn tạo thêm ngành nghề mới, việc làm mới ở nông thôn.

Thách thức vẫn còn, đặc biệt ở khâu thu gom và đầu tư hạ tầng xử lý. Phụ phẩm trồng trọt thường phân tán, khối lượng lớn nhưng giá trị thấp, khó vận chuyển xa. Cần cơ chế khuyến khích tín chỉ carbon, ưu đãi thuế cho doanh nghiệp chế biến sinh khối và hướng dẫn kỹ thuật cho nông dân. Những thành công ban đầu cho thấy hướng đi này rất khả quan. 

Từ ruộng đồng đến nhà máy, từ rơm rạ đến viên nén sinh học, hành trình biến phụ phẩm thành tài nguyên đang viết tiếp câu chuyện bền vững của nông nghiệp Việt Nam. Đó cũng là cách con người thay đổi mối quan hệ với tự nhiên, tôn trọng, tái tạo và cùng tồn tại. Sau 80 năm, ngành trồng trọt và bảo vệ thực vật không chỉ biết cách làm ra của cải mà còn biết giữ gìn sức khỏe của đất, của cây và của môi trường.

Theo Báo Nông Nghiệp và Môi Trường

‘Bốn nhà’ cùng giải bài toán nông sản dư thừa

Nhà nông, nhà quản lý, nhà khoa học và nhà doanh nghiệp cùng giải bài toán nông sản ế tại diễn đàn Khuyến nông liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.

Nhà nông than làm ra cái gì cũng khó bán

Trong bối cảnh kinh tế khó khăn như hiện nay thì phải khẳng định nông nghiệp cũng đỡ hơn nhiều ngành khác vì nó liên quan đến cái ăn, cái uống hàng ngày, bắt buộc phải tiêu dùng. Tuy nhiên, nông dân trước đây vốn chỉ quen lam lũ, bới đất, lật cỏ để sản xuất chứ chưa quen với chuyện nâng tầm giá trị, quảng bá, bán sản phẩm nên điệp khúc “được mùa, mất giá” cứ lặp đi lặp lại. Bởi thế, mới đây Sở NN- PTNT thành phố Hà Nội đã phối hợp với UBND huyện Mỹ Đức tổ chức diễn đàn Khuyến nông @ liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp.

Đây là một dịp tốt cho “bốn nhà” gồm: nhà nông, nhà quản lý, nhà khoa học và nhà doanh nghiệp có thể cùng bàn luận, tháo gỡ khó khăn này. Câu chuyện ế thừa sản phẩm lan từ ngoài hành lang trưng bày sản phẩm đến trong hội trường với hàng loạt những câu than thở, bất lực: “Nhãn của tôi ngon nhất nhì huyện mà bán có 8.000đ/kg còn ế”. “Gạo Nhật của tôi chất lượng cao nhưng giá mua thóc tươi vẫn chỉ hơn 6.000đ/kg”…

Anh Nguyễn Quang Hùng, chủ trang trại rộng tới 12 ha trồng rau, dưa chuột, cà chua, dưa lưới ở xã Lê Thanh cho biết mình là người hiếm hoi trong vùng có chứng nhận GlobalGAP. Sản phẩm trang trại của anh làm ra tiêu thụ không khó nhưng giá bán chưa đúng với giá trị thực, thường chỉ được cỡ 30.000đ/kg, chưa thực sự khuyến khích được người sản xuất đã đầu tư tới 7 tỉ đồng vào đây: “Tiêu chuẩn GlobalGAP còn khó gấp 5 lần tiêu chuẩn hữu cơ Việt Nam bởi nó có 260 chỉ tiêu đánh giá, trong khi đó tiêu chuẩn hữu cơ chỉ hơn 30 chỉ tiêu đánh giá. Bởi vậy, tôi rất mong muốn kết nối được trực tiếp với khách hàng để bán được sản phẩm với giá cao hơn”.

Các đại biểu tham quan hàng nông sản của huyện Mỹ Đức. Ảnh: Dương Đình Tường.
Các đại biểu tham quan hàng nông sản của huyện Mỹ Đức. Ảnh: Dương Đình Tường.

Anh Nguyễn Văn Hợi, chủ trang trại ở xã Xuy Xá băn khoăn chuyện nếu làm đúng quy trình VietGAP thì phải mua vật tư ở đâu, sản phẩm bán ra giá cả như thế nào. Thêm vào đó, các chủ trang trại trước đây được địa phương ký hợp đồng cho thuê đất 15 năm, họ trả sản đầy đủ nhưng đã hết hạn vào năm 2019, hiện bị treo lơ lửng về pháp lý, luôn lo lắng vì sợ bị giải tỏa trắng, sợ bị mang đất ra đấu thầu tiếp mà không trúng. Một số chủ trang trại đang lâm vào tình trạng nợ nần ngập đầu, nhiều người khác vì sản xuất không hiệu quả mà bỏ trắng.

Anh Nguyễn Văn Sinh, chủ trang trại ở xã Hương Sơn cho biết: Địa phương đã lập ra HTX để nông dân cùng nhau sản xuất nhưng nông sản làm ra vẫn không có nơi tiêu thụ. Mấy chục tấn vải vụ rồi bán trôi nổi, giá thấp, bản thân trang trại nhà anh đang có mấy chục tấn nhãn cũng chỉ được tư thương mua ở mức 8.000đ/kg dù rằng rất ngon.

Anh Nguyễn Bá Tiến, chủ trang trại ở xã An Phú thông tin: Quê mình có diện tích sen lớn nhất miền Bắc, với 178 ha loại hồng cánh đơn lấy hạt nhưng thị trường bấp bênh nên đang trồng thử nghiệm vài mẫu giống mới bách diệp; có 91 ha thủy sản, cá sạch mà vẫn bí đầu ra, chỉ biết bán cho thương lái nên đang thử nghiệm làm chả cá với sản lượng 50-70 kg/ngày và chưa biết cách nào để vào được siêu thị. Rất mong được Nhà nước hỗ trợ trong việc xây dựng thương hiệu, truy xuất nguồn gốc cho nông sản.

Bà Phan Thị Thuận, giám đốc Cty TNHH Dâu tằm tơ Mỹ Đức ở xã Phùng Xá là chủ nhân của sản phẩm OCOP 5 sao chăn tơ tằm tự dệt nổi tiếng khắp Thủ đô. Bà mong được Nhà nước hỗ trợ để bản thân có thể dạy nghề cho nhiều người dân trong huyện, đặc biệt là phụ nữ; để tạo được thương hiệu riêng về tơ lụa cho Mỹ Đức, tránh tình trạng nhiều khách đến đặt hàng bà làm nhưng lại đòi ghi tên thương hiệu của họ.

Bà Phan Thị Thuận - Giám đốc Cty TNHH Dâu tằm tơ Mỹ Đức giới thiệu về các sản phẩm lụa sen, lụa tằm. Ảnh: Dương Đình Tường.
Bà Phan Thị Thuận – Giám đốc Cty TNHH Dâu tằm tơ Mỹ Đức giới thiệu về các sản phẩm lụa sen, lụa tằm. Ảnh: Dương Đình Tường.

Lời khuyên của chuyên gia

Mỹ Đức được quy hoạch là vành đai xanh của Thủ đô với định hướng sản xuất nông nghiệp là nền tảng, du lịch – dịch vụ là mũi nhọn. Đến nay huyện đã quy hoạch được 7 vùng sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao với tổng diện tích 314 ha; vùng lúa chất lượng trên 4.500 ha; vùng rau an toàn trên 135 ha; vùng cây ăn quả 150 ha; vùng nuôi thuỷ sản tập trung 750 ha; vùng trồng hoa sen trên 500 ha…

Thời gian qua, các mô hình liên kết theo chuỗi từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm trên địa bàn Mỹ Đức cũng bước đầu được quan tâm. Hiện huyện có một số nông sản có thương hiệu, có thị trường tiêu thụ khá ổn định như rau sắng Chùa Hương (xã Hương Sơn); cao cà gai leo của Công ty Dược Tuệ Linh (xã Phù Lưu Tế); nấm kim châm của Công ty Kinoko Thanh Cao (xã Đốc Tín); rau an toàn (xã Lê Thanh)… Tuy nhiên bức tranh chung vẫn là một nền sản xuất mang tính nhỏ lẻ, sản phẩm làm ra tiêu thụ phụ thuộc chính vào thương lái, giá cả bấp bênh. Vậy phải giải bài toán này thế nào?

Theo ông Nguyễn Tiến Thịnh, Phó Giám đốc Trung tâm Phân tích và Chứng nhận sản phẩm nông nghiệp Hà Nội: Hiện tỷ lệ nông sản có chứng nhận của Thủ đô chỉ chiếm khoảng 7%, trong khi đó muốn các siêu thị, cửa hàng thực phẩm sạch tiêu thụ sản phẩm tươi sống đều phải có chứng nhận VietGAP, hữu cơ, còn sản phẩm chế biến thì phải có chứng nhận HACCP, có đóng gói, tem mác.

Bởi vậy để nâng cao giá trị cho nông sản, không còn con đường nào khác phải làm chứng nhận, minh bạch nguồn gốc xuất xứ. Vấn đề đối với đa số các chủ trang trại, nông hộ hiện nay là họ mới chỉ quan tâm đến việc sản xuất, chạy theo năng suất, còn ít để ý đến nâng cao chất lượng, có chứng nhận, đóng gói, tem mác nên mới xảy ra tình trạng ứ thừa sản phẩm, giá bán rẻ mạt.

Ký kết hợp tác tiêu thụ sản phẩm. Ảnh: Dương Đình Tường.
Ký kết hợp tác tiêu thụ sản phẩm. Ảnh: Dương Đình Tường.

Trước những tâm tư của nông dân, ông Đỗ Hoàng Thạch – Tổng Giám đốc An Việt Group chia sẻ, bản thân mình cũng là người làm trang trại 19 năm nay, trước khi đến với hội nghị, 5 giờ sáng hôm nay vẫn còn lọ mọ với cây cối. Ông trồng đủ thứ từ rau, cây ăn quả đến cây cảnh nhưng 10 năm lỗ liên tục, đến khi chuyển dịch sang hướng mới kết hợp giữa nông nghiệp hữu cơ và du lịch trải nghiệm mới đạt kết quả khả quan. Có thời điểm trang trại của ông đón 700 học sinh, với mức vé 30-40.000đ/người đó là một nguồn thu không nhỏ. Có khách du lịch, sản phẩm của trang trại làm ra cũng không bao giờ bị ế thừa, giá bán luôn cao.

Tuy nhiên không phải trang trại nào cũng làm được du lịch như thế mà cần có những điều kiện nhất định về đường giao thông, về cảnh quan. Dù làm theo cách nào thì các trang trại cũng phải tạo ra sự khác biệt trong chất lượng nông sản và mở rộng các kênh bán hàng trên các nền tảng marketing như tik tok, facebook, zalo. Nếu ai đã sản xuất theo chuẩn hữu cơ thì kết nối với An Việt Group để bao tiêu sản phẩm.  

Ông Đặng Văn Đông – Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Rau quả nhận định Mỹ Đức là một trong những nơi thích hợp nhất của Hà Nội để làm nông nghiệp an toàn bởi có nước sạch, đất sạch. Huyện có một số xã rất phù hợp với cây hoa sen, hoa súng, có sẵn thị trường là mỗi năm cả triệu du khách đến chùa Hương. Vấn đề bây giờ phải đưa vào trồng các giống sen đa dạng với các mục đích như lấy hoa, lấy lá, lấy củ, lấy hạt.

“Huyện Mỹ Đức định hướng trong thời gian tới sẽ phát triển mô hình khuyến nông với 20 ha sen sản xuất theo chuỗi giá trị. Nguồn lực hiện đã có rồi, giờ chỉ còn chờ những ai đam mê, đêm nằm mơ ngủ cũng thấy sen thì kết nối với tôi”, ông hào hứng. Cũng ngay tại hội nghị, các địa phương, doanh nghiệp đã ký biên bản ghi nhớ việc kết nối tiêu thụ nông sản.

Theo Báo Nông Nghiệp và Môi Trường

Từ phụ phẩm nông nghiệp đến sản phẩm toàn cầu

Từ những sợi lá dứa, xơ mướp, cỏ năng tượng cho đến bã cà phê – những nguyên liệu từng bị xem là rác, nay đang dần hóa thành “vàng xanh”. Các nguyên liệu trên không chỉ góp phần giảm phụ thuộc vào nhập khẩu, nguồn nguyên liệu bản địa mà còn mở ra hướng đi mới cho doanh nghiệp Việt Nam.

tren.jpg

Cỏ hóa thành nguyên liệu sản xuất

Tại tọa đàm “Khám phá tài nguyên bản địa Việt Nam” do Hội Doanh nghiệp Hàng Việt Nam Chất lượng cao và Trung tâm Nghiên cứu và Hỗ trợ doanh nghiệp (BSA) tổ chức ngày 24/8, nhiều chuyên gia và doanh nghiệp (DN) đã chia sẻ những câu chuyện thú vị về hành trình “hóa phép” cỏ cây bản địa, phụ phẩm nông nghiệp thành nguyên liệu công nghiệp.

Đơn cử như Faslink – công ty hơn 17 năm gắn bó với ngành thời trang bền vững, đã đưa sợi lá dứa vào sản xuất áo sơ mi, tất, thậm chí cả vải kháng khuẩn. “Sợi lá dứa có khả năng chống nắng, kháng khuẩn, khử mùi tự nhiên. Hồ sơ chất lượng lên đến 40 trang và đã được kiểm định bởi đơn vị độc lập. Khi còn thấy có công dụng, ta không nên coi là rác mà chính là phụ phẩm nông nghiệp quý giá”, bà Trần Hoàng Phú Xuân – Tổng Giám đốc Faslink chia sẻ.

Từ xơ mướp, một nguyên liệu dân dã quen thuộc, ông Đỗ Đăng Khoa – nhà sáng lập Làng Mướp đã xây dựng thành công nhiều dòng sản phẩm xuất khẩu. “Xơ mướp có thể làm đồ chơi thú cưng, sản phẩm chăm sóc cơ thể, đồ gia dụng… Chúng tôi đã xuất khẩu sang Nhật suốt 10 năm qua, nay đang mở rộng sang Châu Âu. Thiên nhiên cho ta những vật liệu tuyệt vời, chỉ cần biết cách tái sinh” – ông Khoa nói.

Trong khi đó, ông Lai Trí Mộc – Tổng Giám đốc Vietnam Housewares lại đặc biệt quan tâm đến cỏ năng tượng – một loài cỏ mọc tự nhiên ở vùng nước phèn, nước mặn miền Tây. “Trước kia nông dân chỉ coi cỏ năng tượng là rác, nay được thu mua làm nguyên liệu, bà con rất phấn khởi. Dù không bền bằng nguyên liệu khác, nhưng cỏ năng tượng lại có tính năng độc đáo, dễ tạo hình, chi phí thấp và phù hợp thủ công mỹ nghệ” – ông Mộc bày tỏ. Không dừng lại ở đó, bã cà phê – sản phẩm tưởng chừng bỏ đi đã trở thành nguyên liệu sản xuất áo sơ mi xuất khẩu sang Mỹ và tất xuất khẩu vào thị trường Trung Đông. Sự sáng tạo này cho thấy khả năng vô tận trong việc tận dụng phụ phẩm nông nghiệp để làm nguyên liệu cho ngành công nghiệp xanh.

Từ lá dứa, xơ mướp, cỏ năng tượng đến bã cà phê, các loại phụ phẩm này đều đang dần chứng minh giá trị không chỉ về kinh tế mà còn ở tầm nhìn phát triển bền vững. Bà Vũ Kim Hạnh – Chủ tịch Hội DN Hàng Việt Nam chất lượng cao nhấn mạnh: “Cái từng bị xem là rác giờ đã trở thành nguyên phụ liệu, có thể làm thành áo thun cho người Nhật, vào siêu thị Walmart. Lá dứa không còn là phế phẩm mà là nguyên liệu quý, biến thành “vàng xanh” nếu biết cách khai thác”. Theo bà Hạnh, việc sáng tạo ra những chất liệu mới từ cỏ cây bản địa không chỉ giúp đa dạng sản phẩm mà còn giảm sự lệ thuộc lớn vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu, đặc biệt trong ngành dệt may, da giày, thủ công mỹ nghệ.

Thị trường – thách thức lớn của “vàng xanh”

Mặc dù cỏ cây bản địa Việt Nam được xem là tiềm năng về nguyên liệu cho các ngành, song câu chuyện nguyên liệu mới chỉ là bước khởi đầu. Vấn đề lớn hơn, chính là thị trường. Làm thế nào để tìm được thị trường, chinh phục người tiêu dùng toàn cầu bằng chính cỏ cây bản địa.

Ông Lai Trí Mộc cho biết, ngành thủ công mỹ nghệ vốn không yêu cầu quá khắt khe như dệt may, nhưng để chinh phục được các tập đoàn bán lẻ toàn cầu thì tính bền, chất lượng và giá thành là yếu tố then chốt. “Nếu không chủ động được nguồn nguyên liệu, doanh nghiệp sẽ khó cạnh tranh. Nhiều nước như Pakistan, Bangladesh đã chuyển dịch mạnh sang khai thác giá trị cao từ nguyên liệu bản địa nên chúng ta cũng phải quyết liệt hơn” – ông Mộc giải thích.

Tương tự, ngành dệt may xuất khẩu tới 46 tỷ USD trong năm 2024 nhưng điểm yếu của ngành dệt may Việt Nam vẫn chủ yếu gia công, phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu. Chính vì vậy, theo bà Trần Hoàng Phú Xuân – Tổng Giám đốc Faslink, việc thương mại hóa nguyên liệu bản địa là cần thiết nhưng đòi hỏi chiến lược dài hơi. “Thị trường quốc tế đòi hỏi tiêu chuẩn cao, từ kiểm định chất lượng, chứng nhận sức khỏe cho đến khả năng sản xuất hàng loạt với giá thành phù hợp. Nếu không đầu tư tốt cho xúc tiến thương mại, sản phẩm khó có thể bán được giá cao” – bà Xuân nhấn mạnh.

Thực tế, nhiều DN mới chỉ dừng ở gia công xuất khẩu, chưa đủ năng lực xây dựng thương hiệu quốc tế. “Faslink đã có những đơn hàng xuất khẩu từ bã cà phê, nhưng để đi xa hơn cần gia tăng năng lực thương mại và xây dựng thị trường nội địa bền vững trước khi vươn ra toàn cầu” – đại diện Faslink chia sẻ thêm. Ở góc nhìn khác, ông Đỗ Đăng Khoa lại nhìn thấy tiềm năng lớn ngay trong thị trường nội địa. “Người tiêu dùng Việt Nam bắt đầu quan tâm đến sản phẩm xanh. Trên kênh TikTok, chúng tôi livestream mỗi ngày, đơn hàng tăng đều. Người mua sẵn sàng chi thêm 30-60% cho sản phẩm sạch, bền vững, miễn là đẹp và tiện ích” – ông Khoa thông tin.

Khi những phụ phẩm từng bị xem là rác hóa thành nguyên liệu sản xuất thì câu chuyện không chỉ là đổi mới sản phẩm, mà còn là thay đổi cách nhìn về tài nguyên bản địa. Cỏ năng tượng, lá dứa, xơ mướp hay bã cà phê, tất cả đang dần được “hóa vàng”, góp phần đưa sản phẩm Việt Nam lên kệ hàng quốc tế. Song, để đi xa hơn, DN cần giải được bài toán thị trường và giá thành, biến lợi thế nguyên liệu thành lợi thế cạnh tranh. Đặc biệt, cần có sự phối hợp giữa DN, nhà khoa học, cơ quan quản lý trong việc chuẩn hóa chất lượng, xây dựng thương hiệu, xúc tiến thương mại.

Theo Đại Đoàn Kết

“Mỏ vàng” từ phụ phẩm nông nghiệp

Kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn đang mở ra những cơ hội lớn để doanh nghiệp nâng cao giá trị tài nguyên, đồng thời thích ứng với xu thế phát triển bền vững của thị trường.

Trong bối cảnh nguồn lực tự nhiên ngày càng chịu áp lực, việc chuyển đổi từ mô hình sản xuất truyền thống sang mô hình tuần hoàn không chỉ là lựa chọn mà đã trở thành yêu cầu tất yếu.

kinh-te-tuan-hoan-chia-khoa-cho-tang-truong-ben-vung-20240126104640.jpg
Mỗi năm Việt Nam tạo ra khoảng 160 triệu tấn phụ phẩm nông nghiệp, bao gồm 42,8 triệu tấn rơm rạ

Chuyển từ “thải bỏ” sang tái tạo giá trị

Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, mỗi năm Việt Nam tạo ra khoảng 160 triệu tấn phụ phẩm nông nghiệp, bao gồm 42,8 triệu tấn rơm rạ, 15 triệu tấn bã mía và 1,4 triệu tấn vỏ cà phê. Tuy nhiên, có tới 80% lượng phụ phẩm này chưa được tái sử dụng hiệu quả. Điều này đồng nghĩa với việc một nguồn tài nguyên khổng lồ đang bị lãng phí, thậm chí trở thành gánh nặng cho môi trường.

Nguyên nhân của tình trạng này đến từ nhiều yếu tố. Trước hết, nhận thức của người nông dân về giá trị kinh tế của phụ phẩm còn hạn chế. Phần lớn vẫn coi đây là chất thải cần loại bỏ, thay vì một nguồn nguyên liệu có thể tái khai thác. Bên cạnh đó, công nghệ xử lý phụ phẩm hiện nay chưa phù hợp với điều kiện sản xuất nhỏ lẻ, manh mún của đa số nông hộ. Ngoài ra, các chính sách hỗ trợ dù đã được ban hành nhưng còn dàn trải, thiếu trọng tâm vào phát triển các mô hình nông nghiệp tuần hoàn.

Dù vậy, thực tế đã xuất hiện những mô hình tiên phong cho thấy tiềm năng lớn của việc tái chế phụ phẩm. Tại Tây Nguyên – thủ phủ cà phê của cả nước, một số doanh nghiệp theo đuổi nông nghiệp xanh đã triển khai thu gom vỏ cà phê để ủ hóa vi sinh, sản xuất phân bón hữu cơ. Mô hình này giúp các trang trại giảm tới 70% chi phí mua phân bón hóa học. Không chỉ dừng ở hiệu quả kinh tế, loại phân bón hữu cơ này còn cải thiện độ mùn của đất, giúp cây trồng hấp thụ dinh dưỡng tốt hơn.

Quy trình ủ hóa vi sinh đòi hỏi thời gian tương đối dài, từ 110 – 120 ngày, hoặc rút ngắn còn 70 – 80 ngày khi kết hợp men vi sinh, phân lân, vôi và mật mía. Tuy nhiên, đổi lại là chất lượng phân bón được đảm bảo, đồng thời giảm thiểu độc tố, góp phần nâng cao độ bền vững cho sản xuất nông nghiệp.

Không chỉ vỏ cà phê, nhiều loại phụ phẩm nông nghiệp khác cũng đang được khai thác theo hướng gia tăng giá trị. Rơm rạ có thể sử dụng làm thức ăn gia súc hoặc nguyên liệu sản xuất giấy tái chế, trong khi bã mía có thể trở thành đầu vào cho sản xuất năng lượng sinh khối. Những mô hình này cho thấy, nếu được khai thác đúng cách, phụ phẩm không còn là “rác thải” mà chính là nguồn tài nguyên thứ cấp đầy tiềm năng.

Một trong những trụ cột quan trọng của kinh tế xanh chính là kinh tế tuần hoàn. Khác với mô hình kinh tế tuyến tính truyền thống “khai thác – sản xuất – tiêu dùng – thải bỏ”, kinh tế tuần hoàn hướng tới việc kéo dài vòng đời tài nguyên thông qua các hoạt động giảm sử dụng, tái sử dụng, tái chế và phục hồi vật liệu.

Theo các nghiên cứu quốc tế, kinh tế tuần hoàn là một hệ thống kinh tế dựa trên các mô hình kinh doanh mới, trong đó khái niệm “kết thúc vòng đời sản phẩm” được thay thế bằng việc tái tạo giá trị tài nguyên xuyên suốt toàn bộ chu trình sản xuất và tiêu dùng. Điều này đồng nghĩa với việc mọi nguồn lực đều có thể được đưa trở lại chu trình kinh tế, thay vì bị loại bỏ sau một lần sử dụng.

PGS TS Nguyễn Hồng Quân, Viện trưởng Nghiên cứu phát triển kinh tế tuần hoàn (ICED) cho rằng, trong bối cảnh tài nguyên ngày càng khan hiếm và áp lực môi trường gia tăng, kinh tế tuần hoàn là hướng đi tất yếu của nền kinh tế toàn cầu. Theo ông, để phát triển bền vững, doanh nghiệp cần thay đổi tư duy, chuyển từ khai thác tài nguyên sang quản lý vòng đời tài nguyên.

“Điều này không chỉ giúp giảm chất thải mà còn tạo ra giá trị kinh tế mới từ những nguồn lực tưởng chừng đã bị bỏ đi”, ông Quân nhấn mạnh.

Tại Đồng bằng sông Cửu Long – vùng sản xuất nông nghiệp trọng điểm của cả nước tiềm năng phát triển kinh tế tuần hoàn đặc biệt lớn. Đây là khu vực có nguồn phụ phẩm dồi dào từ lúa gạo, thủy sản và trái cây. Các loại phụ phẩm như rơm rạ, vỏ trấu, phế phẩm thủy sản hay bã trái cây hoàn toàn có thể được tái chế thành phân bón hữu cơ, thức ăn chăn nuôi hoặc năng lượng sinh khối.

Việc tận dụng hiệu quả các nguồn phụ phẩm này không chỉ giúp nâng cao giá trị tài nguyên mà còn góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường, tạo thêm sinh kế và nâng cao thu nhập cho người dân.

Đổi mới sáng tạo – chìa khóa chuyển đổi

Để kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn phát huy hiệu quả, đổi mới sáng tạo đóng vai trò then chốt. Theo TS Nguyễn Hồng Cẩm, Đại học Nam Cần Thơ, quá trình này không chỉ dừng lại ở đổi mới công nghệ, mà còn bao gồm đổi mới mô hình kinh doanh, tổ chức lại chuỗi giá trị và phương thức cung ứng sản phẩm.

kinhtenongthon.vn-data-data-xuanthanhnguyen-2024-10-02-_nong-nghiep-xanh.jpg
Để kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn phát huy hiệu quả, đổi mới sáng tạo đóng vai trò then chốt

Các nghiên cứu của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) cho thấy, đổi mới sinh thái là việc tạo ra các sản phẩm, quy trình hoặc mô hình quản trị mới, giúp cải thiện đáng kể tác động môi trường so với các giải pháp truyền thống. Đây chính là nền tảng để doanh nghiệp vừa nâng cao năng lực cạnh tranh, vừa đáp ứng các tiêu chuẩn phát triển bền vững.

PGS TS Nguyễn Hồng Quân cũng nhấn mạnh rằng đổi mới sáng tạo trong kinh tế xanh không chỉ là câu chuyện công nghệ, mà còn là câu chuyện về hợp tác. Theo ông, để thúc đẩy chuyển đổi xanh cần có sự tham gia của nhiều chủ thể như doanh nghiệp, nhà nước, trường đại học và các tổ chức xã hội.

Sự phối hợp này sẽ tạo nên một hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, nơi các ý tưởng mới được hình thành, thử nghiệm và nhân rộng, từ đó phục vụ mục tiêu phát triển bền vững. Đây cũng là điều kiện quan trọng để các mô hình kinh tế tuần hoàn có thể phát triển ở quy mô lớn, thay vì chỉ dừng lại ở các mô hình thí điểm.

Trên thực tế, nhiều mô hình kinh tế xanh đã và đang được triển khai tại Việt Nam như nông nghiệp tuần hoàn, khu công nghiệp sinh thái, tái chế rác thải nhựa hay phát triển năng lượng tái tạo. Những mô hình này không chỉ giúp giảm phát thải khí nhà kính mà còn mở ra các ngành kinh tế mới, tạo thêm động lực tăng trưởng.

Có thể thấy, từ những phụ phẩm tưởng chừng bỏ đi, kinh tế tuần hoàn đang mở ra một “mỏ vàng” mới cho doanh nghiệp và nền kinh tế. Tuy nhiên, để khai thác hiệu quả tiềm năng này, cần có sự thay đổi đồng bộ từ nhận thức, công nghệ đến chính sách và mô hình hợp tác. Khi đó, kinh tế xanh không chỉ là xu hướng, mà sẽ trở thành nền tảng cho một mô hình tăng trưởng bền vững trong tương lai.

Theo Diễn Đàn Doanh Nghiệp