Khởi nghiệp với phế phẩm nông nghiệp

Với nhà máy nằm ở Bến Tre và xưởng sản xuất tại Lâm Đồng, Ficoco đã cho ra đời nhiều dòng sản phẩm nguyên liệu chính là giá thể xơ dừa, được nghiên cứu, phối trộn để cho ra những loại giá thể trộn sẵn tối ưu cho từng loại cây trồng khác nhau.

Khởi nghiệp với phế phẩm nông nghiệp - Ảnh 1.

Tôi chụp cùng các đối tác trong một hội chợ quốc tế

Chọn phế phẩm để đồng hành cùng giấc mơ khởi nghiệp

Sau khi tốt nghiệp đại học, tôi sinh sống và làm việc tại TP.HCM. Do đặc thù công việc cũ, tôi may mắn có cơ hội đi tham quan thực địa tại nhiều quốc gia có nền nông nghiệp phát triển (Israel, Thái Lan, Malaysia, Nhật Bản…), từ đó có những trăn trở về cách làm nông nghiệp tại quê nhà.

Bắt đầu năm 2018, tôi quyết định nghỉ công việc cũ và thành lập công ty, với sứ mệnh giúp người nông dân Việt Nam tiếp cận được các giải pháp, kỹ thuật sản xuất tiên tiến, từ đó tăng được giá trị, an toàn cho nông sản, cải thiện kinh tế cho bà con.

Qua trải nghiệm công tác ở nước ngoài, tôi phát hiện thấy có một mỏ vàng ẩn mình có sẵn ở Việt Nam, đó là vỏ dừa.

Dừa là loại cây đặc sản của các quốc gia nhiệt đới, tưởng chừng lớp vỏ bên ngoài quả dừa là vô tích sự, nhưng đây là một trong những loại nguyên liệu được sử dụng để làm giá thể trồng trọt phổ biến nhất trên thế giới.

Các thương nhân người Hà Lan, Israel thường đến các quốc gia nhiệt đới (Ấn Độ, Sri Lanka, Indonesia, Việt Nam…) đặt nhà máy, thu mua nguyên liệu, chế biến thành thành phẩm, sau đó xuất khẩu đi khắp thế giới.

Khởi nghiệp với phế phẩm nông nghiệp - Ảnh 2.

Tôi và đồng đội trong những ngày nghiên cứu sản phẩm tại nhà máy xơ dừa

Tuy nhiên, để có thể đưa từ vỏ dừa này thành nguyên liệu giá thể có thể trồng cây, thì buộc phải nghiền vỏ thành mụn và xơ dừa, đưa qua quy trình xử lý để loại bỏ chất chát (tannin), các loại muối (Na, K).

Thực tế tại Việt Nam, người nông dân đã tự mua về và tự xử lý trước khi đưa vào mùa vụ. Tuy nhiên, không phải ai cũng có kỹ thuật xử lý để đạt tiêu chuẩn phục vụ trồng trọt, nhất là đối với những người nông dân mới bắt đầu canh tác.

Nên đôi khi cây trồng sẽ bị ngộ độc bởi chất chát và các loại muối còn lại trong loại nguyên liệu này nếu chưa được xử lý kỹ.

Từ lúc phát hiện cơ hội này không chỉ là thị trường trong nước và quốc tế, tôi đã quyết định bắt tay ngay vào nghiên cứu quy trình xử lý theo kỹ thuật của Hà Lan, và đầu tư sản xuất ở quy mô công nghiệp để tiêu chuẩn hóa sản phẩm và tối ưu hóa giá thành.

Từ đó, cung cấp sản phẩm mụn dừa đã xử lý với thương hiệu Ficoco, cho người nông dân theo đúng tiêu chuẩn chất lượng quốc tế và giá thành cạnh tranh.

Thời gian đầu, sản phẩm cũng vấp phải cái nhìn e dè của khách hàng. Vì là người tiên phong ra mắt dòng sản phẩm đã xử lý sẵn qua hai bước, họ vẫn nghi ngờ, nghĩ sản phẩm xử lý chưa đạt. Ban đầu phải thuyết phục từng nông dân sử dụng thử.

Khi thấy sản phẩm chất lượng, đỡ mất thời gian tự xử lý, họ đã tiếp tục ủng hộ, và giới thiệu thêm nhiều khách hàng.

Cho đến nay, sau gần 3 năm ra mắt sản phẩm, đã có hơn 500 nông dân sử dụng sản phẩm xơ dừa xử lý theo công nghệ hai bước, và sản phẩm cũng đã xuất khẩu đi thị trường Malaysia.

Khởi nghiệp với phế phẩm nông nghiệp - Ảnh 3.

Vườn dưa lưới trồng trên giá thể xơ dừa Ficoco

Trong nguy luôn có cơ…

Năm 2020, trong giai đoạn bị ảnh hưởng bởi đại dịch, giống như rất nhiều doanh nghiệp non trẻ khác, Ficoco cũng gặp khó khăn vì hoạt động kinh doanh gần như đứng yên, nhưng các khoản chi phí đều phải trả mỗi tháng và đảm bảo thu nhập cho nhân viên.

Nhưng trong giai đoạn giãn cách xã hội, tôi nhận ra một cơ hội, đó là có rất nhiều người có nhu cầu trồng cây, trồng rau ở nhà. Từ đó, tôi và các kỹ sư của mình cho ra đời các sản phẩm giá thể chất lượng, tiện lợi từ xơ dừa cho khách hàng ở thành phố có thể trồng nhiều loại cây khác nhau.

Nhờ đó, Ficoco trở mình “vượt” bão, cung cấp rất nhiều sản phẩm không chỉ giúp cho các khách hàng có thể trồng rau tại nhà, mà thành nhu cầu trang trí nhà cửa sau khi kết thúc dịch bệnh, với các sản phẩm chuyên dụng trồng hoa, cây kiểng, xương rồng, sen đá,…

Khởi nghiệp với phế phẩm nông nghiệp - Ảnh 4.

Những sản phẩm lần lượt ra đời trong giai đoạn giãn cách xã hội

Toàn bộ nguyên liệu đầu vào được Ficoco kiểm định chặt chẽ về chất lượng, chúng tôi ưu tiên sử dụng các phế phẩm như xơ dừa, vỏ dừa cắt, tự ủ phân hữu cơ compost để đảm bảo sản phẩm an toàn cho người sử dụng và cây trồng, và tận dụng được nguồn phế phẩm nông nghiệp có sẵn, giảm tác hại rác thải cho môi trường.

Khởi nghiệp với phế phẩm nông nghiệp - Ảnh 5.

Nhà máy tại Lâm Đồng trong một ngày sản xuất giá thể

Nỗ lực được ghi nhận

Bước vào năm thứ 5 khởi nghiệp, với lĩnh vực cung cấp nguyên liệu đầu vào cho ngành nông nghiệp, doanh số trung bình mỗi tháng của Ficoco hiện tại đạt 1 tỉ đồng và có một xưởng sản xuất đặt tại Lâm Đồng, một nhà máy ở Bến Tre.

Các sản phẩm của Ficoco đã phục vụ hơn 1.200 nhà sản xuất nông nghiệp chuyên nghiệp trên 40 tỉnh thành phố trên cả nước.

Khởi nghiệp với phế phẩm nông nghiệp - Ảnh 6.

Những chuyến hàng đều đặn xuất kho để giao cho các đại lý trên cả nước

Dự tính trong tương lai, Ficoco sẽ nghiên cứu và cho ra mắt những sản phẩm chất lượng, đạt kỳ vọng của khách hàng để đưa việc trồng và chăm sóc cây trở thành thói quen hằng ngày của mỗi người.

Môi trường sống ngày một cải thiện, đời sống tinh thần cũng theo đó mà phát triển theo chiều hướng tích cực là mục tiêu dài hạn mà tôi đề ra khi tiếp tục bước đi cùng Ficoco.

Theo báo Tuổi Trẻ

Triển vọng kinh tế xanh từ phế phụ phẩm ngành sắn

Tây Ninh là thủ phủ cây sắn của cả nước, các phế phụ phẩm ngành sắn đang được địa phương này tận dụng triệt để, hướng tới kinh tế xanh và tuần hoàn, bền vững.

LTS: Hưởng ứng và hiện thực hóa chiến lược của Chính phủ cũng như các chương trình, đề án của Bộ NN-PTNT, năm 2024, phong trào phát triển nông nghiệp sinh thái, hữu cơ, tuần hoàn, phát thải carbon thấp, thân thiện với môi trường đã diễn ra sôi nổi tại nhiều địa phương, trên nhiều lĩnh vực trong ngành nông nghiệp…

Biến vỏ sắn thành phân hữu cơ chất lượng

Tây Ninh được mệnh danh là thủ phủ cây sắn với diện tích trồng sắn hằng năm đứng hàng đầu cả nước, ngành công nghiệp chế biến tinh bột sắn cũng không kém cạnh với số lượng nhà máy và công suất chiếm 50% toàn ngành.

Sắn (khoai mì) là một trong những cây trồng chủ lực trên đất Tây Ninh. Ảnh: Trần Trung.
Sắn (khoai mì) là một trong những cây trồng chủ lực trên đất Tây Ninh. Ảnh: Trần Trung.

Theo các chuyên gia, sắn không chỉ là cây dễ trồng, điểm nhấn của cây trồng này là ngoài phần giá trị nhất là củ sắn thì hầu hết các sản phẩm khác từ thân, lá cho đến bã sắn (củ sắn sau khi lấy hết tinh bột) đều có thể tận dụng để sản xuất phân bón hữu cơ, thức ăn gia súc, gia cầm. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân, “kho vàng” phế phụ phẩm này vẫn chưa được khai thác triệt để, thậm chí nhiều nơi còn gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng.

Tận dụng lợi thế, những năm gần đây, ngành nông nghiệp tỉnh Tây Ninh đã có nhiều giải pháp xây dựng chuỗi liên hoàn sản xuất – tiêu thụ – tận dụng phế phẩm, phụ phẩm trong ngành sán. Nhiều mô hình từng bước được hình thành và nhân rộng, góp phần phát triển nông nghiệp xanh, bền vững. Trong đó, mô hình ứng dụng chế phẩm sinh học xử lý vỏ sắn thành phân hữu cơ vi sinh là mô hình đầy triển vọng mà Trung tâm Khuyến nông tỉnh Tây Ninh đã và đang thực hiện và nhân rộng.

Theo kỹ sư Nguyễn Văn Nguyên, khuyến nông viên thuộc Trại Thực nghiệm và Tư vấn Dịch vụ nông nghiệp thuộc Trung tâm Khuyến nông tỉnh Tây Ninh, với triết lý “trả cho đất những gì lấy từ đất”, Trại Thực nghiệm đã nghiên cứu và đưa vào sử dụng viên nén vi sinh Nano-Gro™ để xử lý vỏ khoai mì thành phân hữu cơ vi sinh có ích cho đất và cây trồng.

“Viên nén vi sinh Nano-Gro™ là chế phẩm sinh học, bao gồm nhiều nấm và vi khuẩn có lợi. Đây là dòng vi sinh hiếu khí, khác với vi sinh bản địa là những dòng vi sinh yếm khí. Do đó, quá trình ủ phân không cần xới đảo, không cần che đậy bạt. Đặc biệt, loại viên nén này có thể phân hủy mọi chất hữu cơ, trong đó có vỏ sắn, qua đó tiết kiệm rất nhiều nhân công”, kỹ sư Nguyên chia sẻ.

Anh Nguyễn Thanh Vũ - chủ trang trại dâu tằm tại xã Tân Hưng (huyện Tân Châu, Tây Ninh) sử dụng viên nén vi sinh Nano-Gro™ kết hợp vỏ sắn tạo phân hữu cơ tại nguồn. Ảnh: Trần Trung.
Anh Nguyễn Thanh Vũ – chủ trang trại dâu tằm tại xã Tân Hưng (huyện Tân Châu, Tây Ninh) sử dụng viên nén vi sinh Nano-Gro™ kết hợp vỏ sắn tạo phân hữu cơ tại nguồn. Ảnh: Trần Trung.

Là một trong những hộ đầu tiên ứng dụng mô hình sử dụng chế phẩm sinh học xử lý vỏ sắn thành phân hữu cơ vi sinh, anh Nguyễn Thanh Vũ, chủ trang trại dâu tằm tại xã Tân Hưng (huyện Tân Châu) cho biết, dinh dưỡng trong 100kg phân vi sinh từ vỏ sắn có khoảng 1kg đạm, 1kg lân và 1kg kali. Ngoài ra, khi bón vào đất, phân này tiếp tục kết hợp với cỏ và rễ cây tạo ra được khoảng 20% nhu cầu đạm và một số chất dinh dưỡng khác cung cấp cho cây trồng.

“Việc sử dụng phân bón vi sinh giúp cây trồng chống chịu được các nấm bệnh gây hại, giúp cải tạo đất, làm tơi xốp, tăng độ phì nhiêu của đất, phát triển bộ rễ, giảm thiểu sâu bệnh. Đặc biệt, mô hình rất dễ thực hiện, giá thành rẻ, giảm chi phí đầu vào và tạo ra được sản phẩm nông sản đáp ứng nhu cầu của thị trường”, anh Vũ chia sẻ.

Để tăng hiệu quả phân hữu cơ từ vỏ sắn, anh Vũ dùng viên nén vi sinh Nano-Gro™ ủ ngay tại vườn nhà. Ảnh: Trần Trung.
Để tăng hiệu quả phân hữu cơ từ vỏ sắn, anh Vũ dùng viên nén vi sinh Nano-Gro™ ủ ngay tại vườn nhà. Ảnh: Trần Trung.

Ông Hà Thanh Tùng, Giám đốc Trung tâm Khuyến nông tỉnh Tây Ninh cho biết thêm, trong bối cảnh giá vật tư nông nghiệp tăng cao, việc tận dụng phế phụ phẩm theo chu trình khép kín thông qua áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ sinh học được coi là xu hướng nhằm phát triển nông nghiệp xanh và bền vững.

“Với nguồn vỏ sắn dồi dào, việc sử dụng chế phẩm sinh học xử lý vỏ sắn thành phân hữu cơ vi sinh là một trong những giải pháp đầy triển vọng. Trong thực tế, muốn có nông sản sạch bắt buộc phải có vùng nguyên liệu sạch, để có vùng nguyên liệu sạch tất yếu cây trồng phải sử dụng phân bón sạch, thuốc bảo vệ thực vật sạch, quy trình kỹ thuật sản xuất sạch… Ðó là tiền đề để mô hình này ngày càng phát triển”, ông Tùng nhấn mạnh.

Nhà máy xanh, tuần hoàn

Cùng với việc tận dụng từ vỏ sắn, gần đây, nhiều nhà máy tinh bột sắn tại tỉnh Tây Ninh đã triển khai tốt mô hình phát triển kinh tế tuần hoàn, áp dụng công nghệ Biogas xử lý phụ phẩm tinh bột sắn và công nghệ xử lý bùn từ chất thải làm phân bón hữu cơ cho cây trồng, đem lại hiệu quả kinh tế cao.

Hệ thống biogas của Công ty TNHH MTV Định Khuê xử lý nước và chất thải rắn trong hoạt động chế biến tinh bột sắn. Ảnh: Trần Trung.
Hệ thống biogas của Công ty TNHH MTV Định Khuê xử lý nước và chất thải rắn trong hoạt động chế biến tinh bột sắn. Ảnh: Trần Trung.

Là doanh nghiệp tiên phong đổi mới công nghệ, bước chân vào Nhà máy tinh bột sắn của Công ty TNHH MTV Định Khuê tọa lạc tại xã Suối Dây, huyện Tân Châu, chúng tôi hầu như không cảm nhận mùi hôi đặc trưng của quy trình sản xuất tinh bột sắn.

Bà Nguyễn Thị Hồng Hạnh – quản lý nhà máy cho biết, mùi hôi thối của quá trình sản xuất tinh bột sắn thường sinh ra từ bể lắng cặn và tách protein và từ bể kỵ khí bậc 1 rất lớn. Khí thải phát tán vào bầu khí quyển có một lượng lớn các khí gây hiệu ứng nhà kính.

Ngoài ra, hiệu suất phân hủy từ các hồ sinh học không cao nên việc xử lý sau kỵ khí rất khó khăn. Khi nhà máy tăng công suất, hệ thống hồ sinh học không đáp ứng đủ và xảy ra hiện tượng quá tải hồ kỵ khí, nước thải tại cống thoát vượt tiêu chuẩn cho phép nhiều lần. Đây chính là nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường trong quá trình sản xuất tinh bột sắn.

Bã sắn được xử lý qua hệ thống sấy từ khí của hầm biogas. Ảnh: Trần Trung.
Bã sắn được xử lý qua hệ thống sấy từ khí của hầm biogas. Ảnh: Trần Trung.

Xác định sản xuất gắn với bảo vệ môi trường, ngay từ rất sớm, Công ty đã đầu tư hầm biogas, khi công nghệ xử lý chất thải ngày càng hiện đại, hầm biogas không chỉ tạo ra khí gas để sấy bột và sấy bã sắn mà quá trình phân hủy chất hữu cơ trong hầm biogas còn giúp giảm tải cho hệ thống xử lý nước thải và tạo ra nguồn phân hữu cơ chất lượng. Ngoài ra, nhà máy còn có nhiều sáng kiến lắp đặt điện năng lượng mặt trời, tận dụng tối đa năng lượng tái tạo trong tái chế, sử dụng phế phụ phẩm. 

Bên cạnh đó, Công ty còn đầu tư hệ thống sấy bã để xử lý mùi hôi bã tươi, vừa dự trữ kho bã sấy được lâu, vừa tăng hiệu quả kinh tế khi bán phụ phẩm bã sấy khô. Bố trí khu vực thu gom, tập kết chất thải rắn sinh hoạt, chất thải rắn công nghiệp thông thường, chất thải nguy hại phát sinh trong quá trình sản xuất. Đặc biệt, cùng với đẩy mạnh sản xuất, để xây dựng vùng nguyên liệu ổn định cho nhà máy, từ nguồn phế phụ phẩm có được, Công ty còn hỗ trợ người trồng sắn. Công ty cũng đang trình Sở NN-PTNT Tây Ninh đề án chuỗi sản xuất – tiêu thụ – tận dụng phế phẩm, phụ phẩm.

“Đây là chuỗi liên kết đầu tiên trong ngành sắn, kỳ vọng dưới sự hỗ trợ của nhà nước, nguồn lực của doanh nghiệp, ngành sắn sẽ giải được triệt để bài toán ô nhiễm môi trường thông qua tận thu được tất cả phế phụ phẩm trong quá trình sản xuất”, bà Nguyễn Thị Hồng Hạnh – quản lý nhà máy kỳ vọng.

Ngành sắn Tây Ninh không ngừng đổi mới công nghệ, sản xuất theo chuỗi tuần hoàn khép kín hướng đến kinh tế xanh, bền vững. Ảnh: Trần Trung.
Ngành sắn Tây Ninh không ngừng đổi mới công nghệ, sản xuất theo chuỗi tuần hoàn khép kín hướng đến kinh tế xanh, bền vững. Ảnh: Trần Trung.

Theo ông Lâm Hồng Thái, Phó Chi cục trưởng Chi cục Trồng trọt và BVTV Tây Ninh, sản xuất nông nghiệp nói chung, ngành sắn nói riêng đang tạo ra một lượng phế phụ phẩm rất lớn, nguồn tài nguyên này nếu được khai thác, sử dụng tốt không chỉ đem lại hiệu quả kinh tế mà còn góp phần bảo vệ môi trường và giảm phát thải khí nhà kính.

Nông nghiệp xanh, nông nghiệp tuần hoàn đang trở thành động lực quan trọng của sự phát triển kinh tế – xã hội. Việc tận dụng triệt để phế phụ phẩm để tạo ra nguồn tài nguyên tái tạo là vô cùng cần thiết”, ông Thái nhấn mạnh.

Theo nongnghiepmoitruong.vn

Phụ phẩm nông nghiệp trở thành động lực cho sản phẩm xanh “Made in Việt Nam”

Trong làn sóng chuyển dịch chuỗi cung ứng toàn cầu gắn với cam kết Net Zero, các doanh nghiệp Việt Nam đang tận dụng phụ phẩm nông nghiệp để phát triển sản phẩm thân thiện môi trường, qua đó mở rộng hiện diện trong chuỗi giá trị toàn cầu…

Hình minh họa.
Hình minh họa.

Khi các cam kết trung hòa carbon đang dịch chuyển từ khẩu hiệu thành hành động cụ thể, việc xây dựng chuỗi cung ứng xanh không còn là lựa chọn mà là yêu cầu sống còn với nhiều doanh nghiệp. Trong bối cảnh đó, các mô hình hợp tác, ứng dụng công nghệ sinh học đang cho thấy vai trò thiết thực, nhưng cũng đối diện nhiều thách thức từ nguyên liệu đầu vào cho đến khung chính sách hỗ trợ.

DOANH NGHIỆP LAN TỎA SÁNG KIẾN XANH, HIỆN THỰC CAM KẾT NET ZERO

Tại sự kiện “NetZero Pallet – Tương lai của chuỗi cung ứng xanh” do AirX Carbon tổ chức ngày 3/7, các chuyên gia và lãnh đạo doanh nghiệp đã cùng thảo luận sâu về vai trò ngày càng nổi bật của các sáng kiến “xanh” đến từ doanh nghiệp Việt đang ngày càng mở rộng tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu.

Theo các chuyên gia, xu hướng sản xuất “xanh” và chuyển đổi xanh ban đầu còn manh mún, nhưng nay đã trở thành một nhu cầu thực tế, được thúc đẩy bởi các quy định quốc tế và cam kết của các tập đoàn lớn.

Minh chứng cho điều này, bà Thanh Phạm, Giám đốc Phát triển Bền vững Heineken Việt Nam, cho biết doanh nghiệp đã đặt phát triển bền vững làm trọng tâm trong chiến lược kinh doanh “Vì một Việt Nam tốt đẹp hơn”, với mục tiêu đạt Net Zero trong sản xuất vào năm 2030 và toàn chuỗi cung ứng vào năm 2040, sớm hơn cả cam kết quốc gia.

Để hiện thực hóa mục tiêu này, Heineken đã triển khai nhiều hành động cụ thể trong lĩnh vực logistics. Đối với các hoạt động trong tầm kiểm soát, toàn bộ xe nâng trong kho đã được chuyển sang sử dụng điện và các nhà máy đều vận hành bằng năng lượng tái tạo. Với các hoạt động ngoài tầm kiểm soát như vận tải, công ty đang từng bước nâng cấp đội xe lên tiêu chuẩn và cải tiến mạng lưới vận chuyển.

Đáng chú ý, Heineken đang hợp tác với AirX Carbon để thử nghiệm Net Zero Pallet. Đây là một sản phẩm pallet sinh học làm từ phụ phẩm nông nghiệp. Với các doanh nghiệp có lượng luân chuyển pallet lớn, việc thay thế pallet truyền thống bằng giải pháp xanh này có thể cắt giảm đáng kể lượng phát thải, trong bối cảnh logistics chiếm tới 20 – 30% tổng lượng phát thải của một doanh nghiệp sản xuất.

Tận dụng hơn 150 triệu tấn phụ phẩm nông nghiệp mỗi năm tại Việt Nam, NetZero Pallet được cung cấp bởi AirX Carbon là một giải pháp xanh đem lại những tín hiệu tích cực. Với công suất nhà máy tại Bình Dương đạt 1,5 triệu pallet mỗi năm, sản phẩm này sử dụng đến 95% phụ phẩm như xơ dừa, vỏ cà phê, không dùng gỗ và không độc hại. Mỗi pallet có khả năng lưu giữ tới 34 kg CO2, được chứng nhận là giải pháp hấp thụ carbon.

Bà Thảo Trần, Đồng sáng lập kiêm Giám đốc Chiến lược của AirX Carbon chia sẻ: “Việt Nam đang chủ động bước vào kỷ nguyên phát triển bền vững với tầm nhìn chiến lược và tinh thần tiên phong. Không chỉ theo kịp xu hướng, chúng ta đang thực sự góp phần kiến tạo các giải pháp cho thế giới”.

Tương tự, trong ngành dệt may, Faslink cũng là một ví dụ về nỗ lực xanh hóa chuỗi cung ứng. Doanh nghiệp này đã ra mắt PINALINA, dòng vải tự nhiên cao cấp được chiết tách từ lá dứa. Việc tận dụng nguồn phế phẩm nông nghiệp này không chỉ giúp giảm phát thải CO2 so với hành vi đốt bỏ lá dứa, mà còn tạo ra một nguồn thu nhập mới cho người nông dân, ước tính khoảng 60 triệu đồng/ha.

CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC CHO CÁC SẢN PHẨM XANH  “MADE IN VIETNAM”

Dù nhu cầu thị trường ngày càng lớn, hành trình phát triển các sản phẩm xanh “Made in Vietnam” không hề dễ dàng. Theo PGS. TS Nguyễn Hồng Quân, Viện trưởng Viện Phát triển Kinh tế Tuần hoàn, Đại học Quốc gia TP.HCM đưa ra lưu ý về tình trạng “tẩy xanh” (greenwashing).

Ông Quân cho rằng những doanh nghiệp chỉ thực hiện các hoạt động bền vững mang tính hình thức, bề nổi sẽ không thể tồn tại lâu dài. Phát triển bền vững phải là một giá trị cốt lõi, được thể hiện xuyên suốt trong tầm nhìn và hành động thực chất của doanh nghiệp.

Tuy nhiên, rào cản đối với các sản phẩm xanh hiện nay còn liên quan đến các vấn đề đến từ chính sách. Theo ông Quân, các giá trị phi tài chính như bảo vệ môi trường, tạo công ăn việc làm tại địa phương hiện chưa được thể chế hóa và quy đổi thành lợi thế kinh tế.

Điều này khiến sản phẩm xanh, dù mang lại nhiều lợi ích cho xã hội, vẫn khó cạnh tranh về giá so với các sản phẩm truyền thống.

Trước những thách thức đó, ông Quân đề xuất cần có chính sách công nhận và lượng hóa các giá trị bền vững, ví dụ như qua tín chỉ carbon, để thị trường có thể định giá đúng sản phẩm.

Đồng thời, chính quyền địa phương cần hỗ trợ doanh nghiệp trong việc tiếp cận và chuẩn hóa nguồn nguyên liệu, giúp họ giảm chi phí và tăng tính cạnh tranh, tạo ra một hệ sinh thái hỗ trợ cho sự phát triển bền vững.

Từ góc độ của một doanh nghiệp, ông Lê Thanh, CEO AirX Carbon, chia sẻ những thách thức chính doanh nghiệp gặp phải trong việc thay thế các vật liệu truyền thống. “Việc hiểu rõ tính chất hóa học, chuẩn hóa nguyên liệu đầu vào từ phụ phẩm nông nghiệp là vô cùng khó khăn”, ông Thanh nói.

“Bài toán” này đến từ cả chất lượng không ổn định của nguyên liệu thô và sự biến động về giá cả. Để giải quyết, AirX Carbon phải vừa nghiên cứu cải tiến kỹ thuật, vừa cam kết giữ giá ổn định cho khách hàng, thậm chí còn nhận được sự hỗ trợ ngược lại từ chính các đối tác lớn trong việc tìm kiếm và chuẩn hóa nguồn cung.

Theo vneconomy.vn

Sản xuất nhựa sinh học từ phụ phẩm nông nghiệp: Hướng tới nền kinh tế tuần hoàn

Dự án “Kinh tế tuần hoàn trong sản xuất ca cao” được thực hiện từ năm 2022 đã hỗ trợ hàng nghìn nông hộ và doanh nghiệp tại nhiều tỉnh thành phát triển nông nghiệp tái sinh. Từ phế phụ phẩm của các ngành cà phê, ca cao, dừa, đã tạo ra nhiều sản phẩm khác như nhựa sinh học, bao bì, pallet… từ đó tăng thu nhập cho người nông dân…

Trong bối cảnh toàn cầu đang đối mặt với những thách thức về môi trường và tài nguyên, khái niệm kinh tế tuần hoàn đã trở thành một xu hướng không thể bỏ qua. Tại Việt Nam, ngành nông nghiệp đang dần chuyển mình theo hướng này, với những sáng kiến đột phá nhằm tận dụng tối đa phụ phẩm nông nghiệp.

Từ ngày 30/10 đến 1/11/2025, tại Trung tâm Hội chợ và Triển lãm Sài Gòn (SECC), Helvetas Việt Nam đã giới thiệu một loạt giải pháp bao bì sáng tạo từ phụ phẩm nông nghiệp, mở ra một chương mới cho ngành nông sản – thực phẩm Việt Nam.

Mỗi năm, Việt Nam tạo ra hàng chục triệu tấn phụ phẩm nông nghiệp, nhưng phần lớn chưa được tái sử dụng hiệu quả. Điều này không chỉ gây lãng phí nguồn sinh khối, mà còn tác động tiêu cực tới môi trường. Trong khi đó, nhiều ngành sản xuất vẫn phụ thuộc vào vật liệu nguyên sinh và nguyên liệu hóa thạch, dẫn đến chi phí cao và phát thải lớn. Trước thực tế đó, các sáng kiến mà Helvetas giới thiệu tại triển lãm đã mở ra hướng đi mới: biến phế phẩm thành vật liệu xanh, hướng tới nền kinh tế tuần hoàn.

Dự án “Kinh tế tuần hoàn trong sản xuất ca cao” do Helvetas Việt Nam thực hiện từ năm 2022 đã hỗ trợ hàng nghìn nông hộ và doanh nghiệp tại nhiều tỉnh thành áp dụng các giải pháp kinh tế tuần hoàn và nông nghiệp tái sinh. Những cải tiến này không chỉ giúp giảm tác động môi trường mà còn tối ưu chi phí và tăng thu nhập cho người nông dân.

Tại Vietnam Coffee Expo 2025, dự án đã mang đến loạt sản phẩm tiên phong như bao bì, pallet, đồ dùng được làm từ phế phụ phẩm của các ngành cà phê, ca cao, dừa.

Một số vật liệu sinh học được Helvetas giới thiệu tại Coffee Expo 2025.
Một số vật liệu sinh học được Helvetas giới thiệu tại Coffee Expo 2025.

Một trong những điểm nhấn của triển lãm là pallet sinh học làm từ xơ dừa, thu hút sự quan tâm của nhiều doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu. Sản phẩm này không chỉ hướng tới thay thế pallet gỗ và nhựa truyền thống, mà còn góp phần giảm phát thải carbon, tiết kiệm chi phí vận chuyển và hạn chế phá rừng.

Ông Anh Dương, chuyên gia vật liệu sinh học của AirX Carbon (một công ty vật liệu sinh học của Việt Nam), cho biết 1.000 tấm pallet sinh học có thể lưu trữ tới 34 tấn carbon, đồng thời có giá thành rẻ hơn khoảng 20% so với pallet gỗ.

Ngoài ra, dự án còn trưng bày các mẫu vật liệu nhựa sinh học từ phụ phẩm nông nghiệp. Bã cà phê hoặc bột vỏ ca cao xay mịn trộn với PLA (polylactic acid) tạo nên loại nhựa có khả năng phân hủy sinh học hoàn toàn, phù hợp cho các sản phẩm dùng một lần như ly, ống hút, khay đựng. Công thức pha trộn phụ phẩm với nhựa PP cũng giúp tạo ra các sản phẩm có độ bền tới 5 năm, có thể thay thế nhựa thông thường hoặc ứng dụng cho đồ dùng tái sử dụng và sản phẩm thương hiệu của các chuỗi cà phê, nhà hàng và khách sạn.

Một giải pháp bao bì mới đầy tiềm năng mà dự án đã hỗ trợ triển khai là giấy gói làm từ vỏ lụa hạt ca cao. Sản phẩm này giữ nguyên vẻ thủ công đặc trưng, có độ mềm, mịn, dễ gấp, lại thân thiện môi trường, đang được Marou Chocolates sử dụng làm giấy gói sô-cô-la.

Vietnam Coffee Expo là sự kiện uy tín hàng đầu trong ngành Thực phẩm và Đồ uống (F&B), với sự tham gia hàng trăm doanh nghiệp ngành cà phê, trà. Năm 2024, triển lãm đã thu hút 200 gian hàng và hơn 19.000 khách tham quan đến từ nhiều quốc gia.

Ông Nguyễn Đình Tuấn, Quản lý Dự án, chia sẻ: “Chúng tôi mong muốn các giải pháp tuần hoàn trong ngành ca cao, đặc biệt là các vật liệu bao bì sáng tạo từ phế phụ phẩm nông nghiệp, được giới thiệu rộng rãi hơn, kết nối các doanh nghiệp trong và ngoài nước để cùng mở ra cơ hội hợp tác, thúc đẩy áp dụng kinh tế tuần hoàn và góp phần giúp Việt Nam đạt mục tiêu phát thải ròng bằng 0”.

Trong bối cảnh ngành F&B và logistics đang tìm kiếm vật liệu thay thế nhựa và giải pháp sản xuất bền vững, gian hàng của Helvetas tại Vietnam Coffee Expo 2025 không chỉ là điểm trưng bày công nghệ mới, mà còn là minh chứng cho sự chuyển mình xanh của ngành nông nghiệp Việt Nam. Những sáng kiến này không chỉ giúp giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường mà còn mở ra cơ hội kinh tế mới, góp phần xây dựng một nền nông nghiệp bền vững và phát triển.

Theo vneconomy.vn