Biến phế phẩm thành tài nguyên, thúc đẩy kinh tế tuần hoàn

Trong bối cảnh vùng đồng bằng sông Cửu Long đang đối mặt với thách thức ngày càng gay gắt về môi trường, biến đổi khí hậu và áp lực tái cơ cấu sản xuất, việc “biến rác thành vàng” không còn là khẩu hiệu, mà đã trở thành hướng đi thực tế, hiệu quả và giàu tính lan tỏa.

Ủ phân hữu cơ từ vỏ xoài và cùi xoài ở tỉnh Đồng Tháp. Ảnh: Báo Đồng Tháp

Phế phẩm giờ không còn là thứ bỏ đi

Là tỉnh có diện tích trồng xoài lớn nhất nhì đồng bằng sông Cửu Long, Đồng Tháp mỗi năm cung ứng khoảng 150.000 tấn xoài cho thị trường. Kèm theo đó là một lượng lớn phế phẩm sau chế biến như vỏ, hạt, cùi dư – chiếm tới 30–50% trọng lượng quả. Trong khi đây từng là nỗi lo về ô nhiễm, thì hiện nay, nhiều nông dân và doanh nghiệp địa phương đang chủ động biến “rác xoài” thành nguồn nguyên liệu quý cho sản xuất phân hữu cơ sinh học.

Khởi nguồn của bước chuyển này là đề tài nghiên cứu khoa học do Viện Cây ăn quả miền Nam và Sở Khoa học & Công nghệ tỉnh Đồng Tháp phối hợp thực hiện, mang tên: “Hoàn thiện quy trình sản xuất phân hữu cơ sinh học từ phế phẩm của quả xoài”. TS. Nguyễn Thị Ngọc Trúc – Chủ nhiệm đề tài – chia sẻ: “Nếu xử lý không đúng cách, lượng phế phẩm này sẽ gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường. Nhưng khi biết tận dụng đúng hướng, nó sẽ trở thành nguồn tài nguyên tái tạo bền vững phục vụ chính nông nghiệp địa phương.”

Công nghệ vi sinh: Chìa khóa chuyển hóa phế phẩm

Dựa trên nền tảng khoa học vi sinh hiện đại, quy trình sản xuất phân hữu cơ từ phế phẩm xoài sử dụng các tác nhân sinh học như nấm Trichoderma, vi khuẩn cố định đạm và enzym phân giải hữu cơ. Những “tác nhân xanh” này giúp phân hủy nhanh chóng các chất hữu cơ phức tạp trong vỏ và cùi xoài, tạo thành phân bón giàu dinh dưỡng, cải tạo đất và gia tăng sức đề kháng cho cây trồng.

Lợi thế về nguồn nguyên liệu tại chỗ giúp Đồng Tháp tiết kiệm chi phí đáng kể. TS. Trúc cho biết trên báo Đồng Tháp: “Chúng tôi đã tối ưu hóa quy trình để phù hợp điều kiện địa phương, chi phí đầu tư thấp và dễ triển khai ở quy mô vừa và nhỏ. Nhất là khi tận dụng được nguồn vi sinh vật bản địa, hiệu quả càng được nâng cao.”

Lãnh đạo tỉnh Đồng Tháp quan tâm, khuyến khích các doanh nghiệp chế biến xoài đẩy mạnh tận dụng phế, phụ phẩm sau chế biến để tái chế, tạo ra giá trị gia tăng chuỗi giá trị ngành hàng. Ảnh: Báo Đồng Tháp

Doanh nghiệp đồng hành: Mắt xích quyết định của chuỗi tuần hoàn

Không dừng lại ở nghiên cứu, đề tài đã nhanh chóng được chuyển giao cho doanh nghiệp để đưa vào thực tiễn. Công ty TNHH Nhiên liệu – Nông nghiệp Đồng Tháp là đơn vị đầu tiên tiếp nhận và triển khai mô hình sản xuất phân hữu cơ từ xoài. Giám đốc công ty, anh Trần Ngọc Phúc, chia sẻ trên báo Đồng Tháp: “Chúng tôi nhìn thấy cơ hội lớn từ nguồn phế phẩm này. Với sản lượng 45.000 – 75.000 tấn phế phẩm xoài mỗi năm, đây là nguồn nguyên liệu không chỉ dồi dào mà còn ổn định lâu dài.”

Dự kiến, nhà máy của công ty sẽ sản xuất trung bình 30 tấn phân bón mỗi ngày, tương đương 9.000 tấn/năm. Mô hình này vừa giúp xử lý lượng chất thải nông nghiệp khổng lồ, vừa tạo ra sản phẩm phân bón sạch, giá cạnh tranh và dễ tiêu thụ. Tính toán sơ bộ cho thấy, doanh thu hàng năm có thể đạt trên 45 tỷ đồng, đóng góp tích cực vào kinh tế địa phương.

Xoài nuôi xoài:Vòng tròn tuần hoàn khép kín

Điểm sáng của mô hình chính là sự liên kết giữa nông dân – nhà khoa học – doanh nghiệp, tạo thành chuỗi sản xuất tuần hoàn: phế phẩm từ xoài → phân hữu cơ → cây trồng → nông sản → chế biến → tiếp tục tái tạo.

Ông Nguyễn Thái Bình – Phó Giám đốc Sở KH&CN tỉnh Đồng Tháp nhận định: “Việc một doanh nghiệp địa phương chủ động tiếp nhận và thương mại hóa kết quả nghiên cứu là minh chứng rõ ràng cho tính khả thi của mô hình kinh tế tuần hoàn. Đó cũng là mục tiêu lớn của ngành trong quá trình tái cơ cấu nông nghiệp.”

Việc sử dụng phân hữu cơ không chỉ giúp nông dân giảm chi phí đầu vào, mà còn nâng cao chất lượng nông sản, cải tạo đất, bảo vệ môi trường và đáp ứng tốt hơn yêu cầu từ các thị trường khó tính như Nhật Bản, Hàn Quốc, EU…

Kinh tế tuần hoàn: Chiến lược sống còn của nông nghiệp bền vững

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng khốc liệt và áp lực giảm phát thải trở thành tiêu chuẩn toàn cầu, hướng đi của Đồng Tháp cho thấy sự nhạy bén và tầm nhìn chiến lược. Từ một đề tài nghiên cứu, cho đến mô hình nhà máy sản xuất thực tế, câu chuyện “vàng nâu từ vỏ xoài” đã mở ra hướng phát triển mới: nông nghiệp sinh thái – nông nghiệp tuần hoàn – nông nghiệp giá trị cao.

Ở cấp độ địa phương, Đồng Tháp đang hướng tới hình thành các chuỗi liên kết bền vững, nơi nông dân không chỉ là người trồng mà còn là chủ thể trong quá trình sáng tạo, tái tạo và gìn giữ môi trường.

Anh Trần Ngọc Phúc tin tưởng: “Khi nông dân thấy rõ lợi ích: tiết kiệm chi phí, tăng năng suất, cải tạo đất và bảo vệ môi trường, họ sẽ chủ động chuyển đổi. Khi đó, kinh tế tuần hoàn không còn là mô hình thử nghiệm mà là một cuộc cách mạng âm thầm nhưng bền bỉ trong đồng ruộng.”

Theo tapchivietnamhuongsac.vn

Xử lý rơm rạ tại ruộng, giảm 15 – 25% chi phí sản xuất

Trong bối cảnh chi phí sản xuất tăng cao, mô hình xử lý rơm rạ bằng chế phẩm vi sinh tại ruộng đang mở hướng đi bền vững, giúp cải tạo đất, giảm chi phí.

Giảm 20 – 30% lượng phân NPK

Sau mỗi vụ thu hoạch, trên nhiều cánh đồng ở Đồng Tháp vẫn còn không ít nông dân giữ thói quen đốt rơm rạ để làm sạch ruộng nhanh, chuẩn bị cho vụ mới. Tuy nhiên, cách làm này không chỉ gây ô nhiễm môi trường mà còn phá vỡ hệ sinh thái đất – yếu tố nền tảng quyết định năng suất và chất lượng cây trồng.

Đất nông nghiệp là “nhà máy sinh học” sống động với sự hiện diện của vi khuẩn, nấm, xạ khuẩn, tảo, tuyến trùng và giun đất. Những vi sinh vật này đóng vai trò phân giải chất hữu cơ, cố định đạm, khoáng hóa dinh dưỡng và tạo mùn, giúp đất tơi xốp, giàu dinh dưỡng.

Nông dân Đồng Tháp rải chế phẩm vi sinh trực tiếp trên ruộng sau thu hoạch, giúp rơm rạ phân hủy nhanh, hạn chế ngộ độc hữu cơ trước vụ hè thu. Ảnh: Lê Hoàng Vũ.
Nông dân Đồng Tháp rải chế phẩm vi sinh trực tiếp trên ruộng sau thu hoạch, giúp rơm rạ phân hủy nhanh, hạn chế ngộ độc hữu cơ trước vụ hè thu. Ảnh: Lê Hoàng Vũ.

Việc đốt rơm rạ đồng nghĩa với việc xóa sổ nguồn thức ăn tự nhiên của hệ vi sinh vật, khiến đất ngày càng suy thoái, chai cứng, phụ thuộc nhiều hơn vào phân bón hóa học.

Trong khi đó, mô hình xử lý rơm rạ bằng chế phẩm vi sinh ngay tại ruộng đang chứng minh hiệu quả rõ rệt. Rơm rạ không còn là phế phẩm mà trở thành nguồn phân hữu cơ quý giá, góp phần xây dựng nền nông nghiệp tuần hoàn.

Theo đánh giá của ngành nông nghiệp Đồng Tháp, chi phí sản xuất khi áp dụng mô hình này giảm từ 15 – 25% so với canh tác truyền thống, tùy mức độ áp dụng và điều kiện từng vùng.

Ông Lê Văn Chấn, Phó Chi cục trưởng Chi cục Trồng trọt và BVTV Đồng Tháp cho biết, hiện nay các dòng chế phẩm vi sinh mới có khả năng phân hủy rơm rạ trong điều kiện yếm khí, phù hợp với đồng ruộng còn ướt sau thu hoạch.

Chỉ sau 3 – 5 ngày, hơn 50% lượng rơm rạ đã được phân hủy, giúp giảm nhanh tình trạng ngộ độc hữu cơ khi xuống giống vụ mới. Nông dân chỉ cần phun chế phẩm ngay khi rơm còn ướt. Sau vài ngày có thể làm đất bình thường, ruộng không còn mùi hôi, cây lúa phát triển khỏe hơn.

Vụ hè thu là vụ sản xuất nhiều rủi ro nhất do thời tiết nắng nóng, mưa thất thường, sâu bệnh phát sinh mạnh và chi phí tăng cao… Trong bối cảnh giá phân bón, thuốc bảo vệ thực vật và nhiên liệu liên tục tăng, việc giảm chi phí đầu vào trở thành yêu cầu cấp thiết.

Ông Trăn Tâm, nông dân canh tác 6,8ha lúa tại xã Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp chia sẻ: “Trước đây tôi đốt rơm cho nhanh, nhưng vài vụ gần đây chuyển sang dùng chế phẩm vi sinh, thấy rõ đất tơi hơn, lúa bén rễ nhanh, ít bị vàng lá đầu vụ. Đặc biệt, tôi giảm được khoảng 20% lượng phân hóa học mà năng suất vẫn ổn định”.

Ứng dụng cơ giới kết hợp phun chế phẩm vi sinh xử lý rơm rạ ngay tại đồng ruộng góp phần giảm chi phí sản xuất, bảo vệ môi trường. Ảnh: Lê Hoàng Vũ.
Ứng dụng cơ giới kết hợp phun chế phẩm vi sinh xử lý rơm rạ ngay tại đồng ruộng góp phần giảm chi phí sản xuất, bảo vệ môi trường. Ảnh: Lê Hoàng Vũ.

Theo ngành chuyên môn, lượng dinh dưỡng từ rơm rạ sau khi phân hủy có thể giúp nông dân giảm từ 20 – 30% lượng phân NPK. Đây là con số đáng kể trong bối cảnh chi phí vật tư ngày càng tăng.

Không chỉ giảm chi phí, việc sử dụng chế phẩm vi sinh còn giúp hạn chế sâu bệnh nhờ hệ vi sinh vật có lợi phát triển, tạo “lá chắn sinh học” cho cây lúa. Đồng thời đất được cải tạo dần qua từng vụ, tăng khả năng giữ nước, giữ phân và chống chịu tốt hơn với điều kiện thời tiết cực đoan.

Ông Nguyễn Văn Hùng, Giám đốc HTX Dịch vụ nông nghiệp Thắng Lợi (xã Mỹ Quí, tỉnh Đồng Tháp) là một trong nhiều HTX tham gia Đề án 1 triệu hecta lúa chất lượng cao, phát thải thấp tại địa phương cho biết, thời gian qua việc áp dụng kỹ thuật xử lý rơm rạ bằng vi sinh kết hợp bón phân hữu cơ đã giúp HTX giảm chi phí sản xuất đáng kể.

Trước đây, mỗi vụ lúa HTX và xã viên luôn quan tâm vấn đề phải đầu tư nhiều phân hóa học và thuốc BVTV. Nay tận dụng rơm rạ tại chỗ, chi phí giảm rõ rệt, trong khi chất lượng hạt lúa được nâng lên, dễ đáp ứng yêu cầu thị trường xuất khẩu. Đây là hướng đi phù hợp với sản xuất lúa chất lượng cao, phát thải thấp.

Rơm rạ – mắt xích quan trọng trong nông nghiệp tuần hoàn

Không chỉ có hiệu quả kinh tế, mô hình xử lý rơm rạ bằng chế phẩm vi sinh còn góp phần quan trọng vào mục tiêu giảm phát thải khí nhà kính – một trong những yêu cầu cấp bách của ngành nông nghiệp hiện nay.

Nông dân tận dụng rơm rạ phối trộn với phân chuồng để ủ thành phân hữu cơ. Ảnh: Lê Hoàng Vũ.
Nông dân tận dụng rơm rạ phối trộn với phân chuồng để ủ thành phân hữu cơ. Ảnh: Lê Hoàng Vũ.

Theo Chi cục Trồng trọt và BVTV Đồng Tháp, việc không đốt rơm rạ giúp giảm đáng kể lượng khí CO₂ và các khí độc hại phát thải ra môi trường. Khi rơm rạ được tái sử dụng, lượng phân hóa học giảm theo, kéo theo giảm phát thải từ quá trình sản xuất và sử dụng phân bón.

Đây chính là mắt xích quan trọng trong nông nghiệp tuần hoàn. Phụ phẩm từ cây lúa được quay vòng, tái sử dụng ngay trên đồng ruộng, vừa giảm chi phí, vừa bảo vệ môi trường.

Ngoài ra, rơm rạ còn có thể được tận dụng để trồng nấm rơm, sau đó phần bã tiếp tục phối trộn với phân chuồng tạo thành phân hữu cơ bón lại cho ruộng. Chu trình khép kín này không chỉ gia tăng giá trị mà còn tạo thêm nguồn thu cho nông dân.

Tại Đồng Tháp, mô hình sử dụng rơm rạ làm phân hữu cơ đã được triển khai trên hàng ngàn hecta đất sản xuất, bao gồm lúa, cây ăn trái và rau màu. Kết quả bước đầu rất tích cực, đất tơi xốp hơn, cây trồng sinh trưởng tốt, năng suất ổn định.

Nhờ cải tạo đất bằng rơm rạ và vi sinh, ruộng lúa sinh trưởng khỏe, hạn chế sâu bệnh. Ảnh: Lê Hoàng Vũ.
Nhờ cải tạo đất bằng rơm rạ và vi sinh, ruộng lúa sinh trưởng khỏe, hạn chế sâu bệnh. Ảnh: Lê Hoàng Vũ.

Ông Lê Văn Chấn, Phó Chi cục trưởng Chi cục Trồng trọt và BVTV Đồng Tháp cho biết thời gian tới, ngành nông nghiệp Đồng Tháp sẽ tiếp tục nhân rộng mô hình, gắn với Đề án 1 triệu hecta lúa chất lượng cao, phát thải thấp. Mục tiêu không chỉ nâng cao thu nhập cho nông dân mà còn xây dựng thương hiệu lúa gạo xanh, bền vững cho xuất khẩu.

“Đây là hướng đi tất yếu. Khi chi phí đầu vào tăng, biến đổi khí hậu ngày càng khốc liệt thì chỉ có canh tác bền vững, tận dụng tài nguyên tại chỗ mới giúp nông dân đứng vững và phát triển lâu dài”, ông Chấn khẳng định.

Theo nongnghiepmoitruong.vn

Tái chế rác thải nông nghiệp, bảo vệ môi trường nông thôn

Để nâng cao chất lượng môi trường nông thôn, thời gian qua tỉnh Đồng Tháp đang đẩy mạnh triển khai mô hình phân loại rác thải tại hộ gia đình, khuyến khích người dân khu vực nông thôn tận dụng tối đa chất thải nông nghiệp để làm phân bón hữu cơ cho cây trồng.

Mô hình “Nông dân Đồng Tháp tái sử dụng rác thải sinh hoạt hữu cơ, phụ phẩm nông nghiệp tạo ra chế phẩm sinh học phục vụ sản xuất” do Hội Nông dân tỉnh triển khai thí điểm tại xã An Nhơn (huyện Châu Thành) từ nguồn kinh phí Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới của tỉnh năm 2023. Thông qua mô hình tạo ra chế phẩm sinh học thành phần hữu cơ phục vụ sản xuất trên địa bàn huyện Châu Thành, nhằm đáp ứng yêu cầu sản xuất theo hướng hữu cơ, tăng lợi nhuận, giảm thiểu ô nhiễm môi trường.

Theo Hội Nông dân tỉnh, lợi thế của huyện Châu Thành có nguồn phế phẩm nông nghiệp khá dồi dào (khoai lang, rơm rạ, lục bình…), do đó việc áp dụng và chuyển giao công nghệ sinh học của mô hình, đặc biệt là giải pháp làm men (IMO) gốc và sử dụng vi sinh vật bản địa có lợi cho sản xuất nông nghiệp tại địa phương.

Để thực hiện mô hình có hiệu quả, Ban Kinh tế – Xã hội (Hội Nông dân tỉnh) phối hợp với Hội Nông dân huyện Châu Thành tổ chức 6 lớp tập huấn cho trên 360 lượt cán bộ, hội viên, nông dân tham dự; hướng dẫn cài đặt Zoom tập huấn trực tuyến cho các thành viên tham gia mô hình. Đồng thời chọn cán bộ, hội viên, nông dân trong đó có hội viên, nông dân tham gia mô hình thí điểm tại xã An Nhơn. 

Theo đó, các hội viên, nông dân được hướng dẫn làm men (IMO), thực hành trực tiếp lên phế phẩm như: lục bình, rơm rạ, thức ăn thừa… tạo thành phân hữu cơ bón cho vườn cây ăn trái. Hoặc tạo ra chế phẩm khử mùi chuồng trại trong chăn nuôi, nhà vệ sinh trường học, bãi rác. Sau khi tham gia lớp tập huấn, nhiều hộ nông dân trên địa bàn xã An Nhơn áp dụng làm được phân hữu cơ từ nguyên liệu lục bình bằng hình thức xử lý men IMO. Phân hữu cơ người dân tự làm được bón cho vườn cây ăn trái, chủ yếu là cây nhãn. Sau khi bón phân hữu cơ tự làm, cây nhãn phát triển tốt, cho trái nhiều và ít sâu bệnh, còn phần đất dưới gốc cây nhãn cũng tơi xốp…

Các hộ dân thực hiện ủ phân hữu cơ từ lục bình để bón cho cây trồng. Ảnh: MN 

Bước đầu mô hình thí điểm tại xã An Nhơn phát huy hiệu quả, Hội Nông dân huyện Châu Thành tiếp tục nhân rộng ra 11 Hội quán, 4 Hợp tác xã và nông dân tham gia mô hình. Hiện tại xã điểm An Nhơn đã có hàng chục hội viên, nông dân tham gia làm men IMO và sử dụng vi sinh vật bản địa có lợi tại các khu vườn với tổng diện tích lên đến hàng chục nghìn mét vuông. Ngoài ra, toàn huyện có 420 hội viên, nông dân thực hiện thu gom, phân loại hơn 40 tấn rác thải tại hộ gia đình và áp dụng giải pháp làm men trên phế phẩm hữu cơ tạo ra phân hữu cơ bón cho diện tích đất trồng nhãn, sầu riêng, ổi, mít.   

Tại tổ liên kết sản xuất nhãn Bạch Viên, xã An Nhơn, huyện Châu Thành khoảng một năm nay, nhờ sử dụng phân hữu cơ làm từ cá cho vườn nhãn đã giúp giảm chi phí sản xuất đáng kể. Lượng phân vô cơ giảm 70%, chỉ còn khoảng 30% thuốc xử lý ra hoa, trái. Việc sử dụng phân sinh học thay phân vô cơ giúp giảm chi phí sản xuất, cây phát triển rất tốt, mang lại lợi ích thiết thực cho nông dân. 

Hiện 40 thành viên tổ liên kết sản xuất nhãn Bạch Viên, xã An Nhơn đang sử dụng men vi sinh để xử lý rác thải sinh hoạt, phụ phẩm nông nghiệp, tạo ra chế phẩm sinh học cho cây trồng. gia đình ông đã tự sản xuất và sử dụng phân hữu cơ từ rác thải và phụ phẩm nông nghiệp hơn một năm qua, đạt hiệu quả rất tốt. Các hộ dân dùng các nguyên liệu quen thuộc như men tiêu hóa sirô, sữa chua, đường, men rượu, cám gạo, chuối, trộn các nguyên liệu này lại ủ 24 giờ đem phơi khô thành men gốc. Lấy một lượng men gốc đủ dùng hòa vào nước, rồi đem nước này tưới vào phần rác thải, phụ phẩm nông nghiệp, ủ tiếp khoảng 3-4 ngày thành phân bón hữu cơ. 

Hội Nông dân xã An Nhơn, hiện có 32 hộ tham gia, ủ từ 3-5 tấn phụ phẩm ốc, cá, lục bình, rau củ quả… có thể thu trên 1 tấn phân bón. Mô hình giúp tiết kiệm 60% chi phí nhờ giảm lượng phân bón vô cơ, giúp cải tạo đất, phục hồi cây lão hóa, tăng năng suất, trái to, đẹp và có thể kéo dài thời gian bảo quản trên cây thêm khoảng 15 ngày trong thời gian trái cây chín rộ, ùn ứ. Riêng đối với những hộ chăn nuôi, ngoài giảm lượng hao hụt, giảm chi phí sản xuất (có thể lên đến 50%), giúp vật nuôi tăng trưởng nhanh, rút ngắn thời gian nuôi, giảm chi phí sản xuất

Thời gian tới, các cấp Hội Nông dân trên địa bàn tỉnh đẩy mạnh tuyên truyền và nhân rộng mô hình, phối hợp với đơn vị hữu quan tăng cường hướng dẫn hội viên, nông dân nắm vững kỹ thuật và sản xuất được chế phẩm sinh học IMO, nhất là ứng dụng chế phẩm IMO trong xử lý mùi hôi chuồng trại chăn nuôi, nhà vệ sinh trong các trường học. Đồng thời đưa các phụ phẩm trong nông nghiệp trở thành nguồn tài nguyên tái tạo lại trong đất. Cùng với đó, làm thay đổi nhận thức của người ND theo hướng kiểm soát và giảm tối đa việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, phân vô cơ trong sản xuất nông nghiệp, nhằm tạo ra sản phẩm an toàn, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng.

 Phân hữu cơ người dân tự làm được bón cho vườn cây ăn trái, chủ yếu là cây nhãn. Ảnh: MN

Thời gian qua, các địa phương trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp triển khai các giải pháp trong bảo vệ môi trường, đẩy mạnh các hoạt động thu gom, xử lý chất thải, xây dựng cảnh quan môi trường nông thôn; nâng cao năng lực quản lý nhà nước và phát huy nguồn lực bảo vệ môi trường trong xây dựng nông thôn mới…

Tại huyện Cao Lãnh, địa phương này phối hợp xây dựng các mô hình thu gom, phân loại và xử lý rác tại hộ gia đình; vận động đoàn viên, hội viên và người dân tích cực tham gia, góp phần bảo vệ môi trường nông thôn xanh, sạch, đẹp. Nhằm chung tay trong công tác bảo vệ môi trường, huyện triển khai, mở rộng mô hình thu gom vỏ bao gói thuốc bảo vệ thực vật sau sử dụng trên địa bàn xã, thị trấn với 775 bể và 2 kho lưu chứa. Các vỏ bao gói thuốc bảo vệ thực vật sau sử dụng được thu gom và xử lý đúng theo quy định. Từ năm 2020 đến nay, tổng khối lượng được thu gom, xử lý đúng quy định là 30,8 tấn.

Hiện trạng xây dựng cảnh quan môi trường trong xây dựng nông thôn mới được duy trì và nhân rộng, triển khai trồng cây xanh, xây dựng tuyến đường xanh – sạch – đẹp được 103 tuyến, với tổng chiều dài trên 234km. Trong đó, số tuyến đường liên xã được trồng cây xanh xây dựng cảnh quan môi trường là 32 tuyến, chiếm 67%; số tuyến đường liên ấp, trục ấp được trồng cây xanh tạo cảnh quan là 71 tuyến, chiếm 53,7%.

Trên địa bàn huyện Thanh Bình triển khai các giải pháp trong bảo vệ môi trường; tăng cường công tác kiểm tra, xử lý vi phạm và phòng ngừa, kiểm soát ô nhiễm. Đồng thời đẩy mạnh các hoạt động thu gom, xử lý chất thải, xây dựng cảnh quan môi trường nông thôn; nâng cao năng lực quản lý nhà nước và phát huy nguồn lực bảo vệ môi trường trong xây dựng nông thôn mới… Theo đó, để đảm bảo công tác bảo vệ môi trường đạt hiệu quả, huyện thường xuyên kiểm soát hoạt động vệ sinh môi trường, tổ chức các hoạt động phát quang bụi rậm 2 bên tuyến đường, ra quân thu gom rác thải. Đồng thời vận động các hộ dân sống ven lộ chỉnh trang cổng ngõ, hàng rào, trồng cây xanh, hoa để tạo cảnh quan môi trường trên các tuyến đường.

Huyện cũng tập trung phân loại, thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn sinh hoạt. Trong đó, xử lý bằng biện pháp đốt đảm bảo đạt quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về môi trường. Bên cạnh đó, huyện đang triển khai thực hiện phân loại chất thải rắn tại nguồn trên địa bàn các xã, thị trấn nhằm nâng cao tỷ lệ phân loại chất thải rắn sinh hoạt, góp phần bảo vệ môi trường trong xây dựng nông thôn mới, nông thôn mới nâng cao. Qua đó góp phần hoàn thành mục tiêu kế hoạch đề ra đến năm 2025, các xã, thị trấn có ít nhất 1 mô hình phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại hộ gia đình.

Về quản lý phân loại, thu gom và xử lý chất thải nhựa, huyện tiếp tục vận động, kêu gọi các tổ chức, cơ quan, hộ gia đình, cá nhân tăng cường tái sử dụng, tái chế chất thải; khuyến khích siêu thị, cửa hàng Bách Hóa Xanh, chợ dân sinh, quán nước, khu du lịch và các cơ sở sản xuất, kinh doanh, du lịch… trên địa bàn huyện giảm thiểu chất thải nhựa, thực hiện phân loại chất thải rắn tại nguồn, hạn chế sử dụng túi ni-lông khó phân hủy, sản phẩm nhựa dùng một lần và thay thế bằng các sản phẩm, vật dụng thân thiện môi trường…/

Theo thiennhienmoitruong.vn/

Nhà sáng chế ép vỏ trấu ra… tiền tỷ

Nhận thấy vỏ trấu và nhiều loại phế phẩm nông nghiệp thải ra môi trường rất lớn, gây lãng phí và ô nhiễm, một thanh niên trẻ ở vùng quê thuần nông tỉnh Thừa Thiên – Huế đã mày mò nghiên cứu và chế tạo thành công Máy ép vỏ trấu thành củi.

“Cha đẻ” của chiếc máy này là anh Trần Đình Lai, ngụ thôn An Xuân (xã Quảng An, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế). Sau khi tốt nghiệp trung cấp cơ khí trường Kỹ nghệ thực hành Huế, chàng trai trẻ trở về quê gây dựng sự nghiệp với những ý tưởng sáng tạo, ứng dụng thiết thực để phục vụ cho công việc đồng áng của nông dân.

Anh Lai tâm sự: “Người nông dân thường tận dụng các phế phẩm như rơm rạ, củi trấu, mùn cưa để làm chất đốt, song vẫn thừa thãi rất nhiều. Mặt khác, các phế phẩm này khi đun nấu rất bất tiện vì tạo nhiều khói và bụi. Ngoài ra, các doanh nghiệp, cơ sở xay xát lúa gạo chính là các điểm tập trung nguồn trấu của các địa phương, bao nhiêu gạo thì cho ra bấy nhiêu trấu tương ứng, thế nhưng các chủ nhà máy hiện không quan tâm nhiều đến nguồn lợi từ trấu. Từ đó tôi nảy ra ý tưởng chế tạo một chiếc máy có thể biến những phế phẩm này thành củi”.

Năm 2008, khi Sở Công Thương tỉnh Thừa Thiên – Huế có dự án đầu tư, chế tạo các loại máy móc có tính hữu dụng cao phục vụ người dân, với tiền vốn được hỗ trợ là 29,5 triệu đồng, anh đã bắt tay vào nghiên cứu sản xuất máy ép củi trấu. Tuy nhiên, phải sau nhiều lần thất bại cuối cùng chiếc máy do anh Lai chế tạo mới được hoàn thiện như hiện nay.

Vỏ trấu được nén thành khối

“Máy hoạt động dựa trên nguyên lý nén bằng trục vít, có van nhiệt và sản phẩm tạo ra là những thỏi củi dài hình ống từ nguyên liệu có sẵn ở địa phương. Lúc đầu trấu được cho vào máy ép, bộ phận sấy tự động sẽ làm giảm độ ẩm của trấu, sau đó ép thành củi dạng ống, dài 70cm, năng suất có thể đạt từ 150 đến 200kg/giờ, chỉ cần 1,5kg trấu sẽ cho “ra lò” 1kg củi”, anh Lai cho biết.

Không ngừng cải tạo kỹ thuật để cho ra sản phẩm chất lượng tốt, hiện nay doanh nghiệp của anh đã có thể lắp ráp hoàn chỉnh và cung cấp cho thị trường 2 loại máy ép củi trấu với công suất 180kg củi/h và 300kg/h. Các sản phẩm đều có thông số kỹ thuật ổn định với các ưu điểm như đảm bảo độ ẩm đầu vào của nguyên liệu, không tiêu tốn điện năng, tự động hóa các quy trình ép.

Theo đánh giá của những người sử dụng, máy ép củi trấu của anh Trần Đình Lai sáng chế rất tiện lợi, bởi lượng trấu hằng ngày được sinh ra từ việc xay xát lúa gạo rất nhiều nhưng qua máy ép đã được nén lại thành củi nên chi phí tồn kho, vận chuyển dường như cũng giảm đi rất nhiều. Tình trạng vỏ trấu bị đốt bỏ gây ô nhiễm, lãng phí về nguồn lực và tài nguyên thiên nhiên cũng được giải quyết.

Với tính hữu dụng cao, Máy ép củi trấu của anh Trần Đình Lai đã vươn xa khỏi Thừa Thiên – Huế, đến với doanh nghiệp ở nhiều tỉnh thành trên cả nước. Hiện sản phẩm củi trấu có thể thay thế được các loại chất đốt khác, từ đó góp phần làm sạch môi trường. Hiện anh Lai còn là tác giả của một số máy cơ khí như máy cắt nước đá, máy ép bã cám… phục vụ cho đời sống sinh hoạt của người nông dân nơi quê anh, góp phần tạo công ăn việc làm, giải quyết gánh nặng thất nghiệp cho nhiều lao động địa phương.

Theo moitruong.net.vn

Sản phẩm từ phụ phẩm nông nghiệp, thúc đẩy xu hướng tiêu dùng xanh trên thị trường trong nước và quốc tế

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu và áp lực tài nguyên ngày càng gia tăng, việc tái sử dụng phế phụ phẩm nông nghiệp để tạo ra các sản phẩm hữu ích đang trở thành một xu hướng phát triển bền vững trên toàn cầu, trong đó có Việt Nam. Không chỉ giúp giảm thiểu lượng chất thải, những sáng kiến này còn mở ra hướng đi mới trong nông nghiệp tuần hoàn, góp phần nâng cao giá trị kinh tế cho người nông dân và doanh nghiệp.

Theo số liệu từ Bộ Nông nghiệp và Môi trường, mỗi năm Việt Nam tạo ra khoảng 160 triệu tấn phế phụ phẩm từ cây trồng, vật nuôi và chế biến nông sản. Tuy nhiên, chỉ khoảng 30-40% trong số này được sử dụng cho các mục đích như làm phân bón hữu cơ, thức ăn chăn nuôi, nhiên liệu sinh khối…, phần còn lại bị thải bỏ hoặc đốt gây ô nhiễm môi trường.

Trong khi đó, nếu biết tận dụng hiệu quả, các phế phẩm như rơm rạ, vỏ trấu, bã mía, lõi ngô, xơ dừa, bã cà phê hay vỏ hạt điều có thể trở thành nguồn nguyên liệu quý để sản xuất nhiều sản phẩm thân thiện môi trường.

Việc tái sử dụng phế phụ phẩm nông nghiệp không chỉ góp phần giảm ô nhiễm, mà còn mở ra hướng đi mới cho phát triển kinh tế tuần hoàn trong lĩnh vực nông nghiệp. Nhiều chuyên gia nhận định, nếu có cơ chế hỗ trợ phù hợp và ứng dụng khoa học công nghệ hiệu quả, nguồn nguyên liệu tưởng chừng bỏ đi này hoàn toàn có thể đem lại giá trị kinh tế cao cho nông dân và doanh nghiệp.

Sản phẩm xanh khẳng định thương hiệu trên thị trường

Thực tế, thời gian gần đây, nhiều tổ chức, doanh nghiệp và nhóm khởi nghiệp tại Việt Nam đã tiên phong triển khai những sáng kiến sáng tạo nhằm tận dụng phế phụ phẩm nông nghiệp vào các lĩnh vực như bao bì sinh học, vật liệu xây dựng, hàng thủ công mỹ nghệ hay thời trang bền vững. Những mô hình này không chỉ thể hiện tinh thần đổi mới sáng tạo mà còn góp phần lan tỏa lối sống xanh, sản xuất xanh trong cộng đồng.

Tại thành phố Hồ Chí Minh, startup Equo đã tạo nên bước đột phá trong việc thay thế nhựa dùng một lần bằng các sản phẩm sinh học thân thiện với môi trường. Công ty sản xuất ống hút và dao thìa dĩa từ các loại phế phụ phẩm như bã mía, bã cà phê, bột gạo và cỏ bàng. Nhờ thiết kế đẹp mắt, có thể phân hủy sinh học hoàn toàn và đạt các tiêu chuẩn quốc tế, sản phẩm của Equo đã có mặt tại nhiều thị trường lớn như Mỹ, Hàn Quốc và châu Âu. Đây là một trong những doanh nghiệp trẻ tiêu biểu được Forbes Asia vinh danh trong danh sách “30 Under 30” năm 2021.

những sản phẩm phục vụ cho nền du lịch xanh, bảo vệ môi trường và đáp ứng xu hướng tiêu dùng hiện này là sản phẩm xanh
Những sản phẩm xanh phục vụ cho du lịch xanh, bảo vệ môi trường và đáp ứng xu hướng tiêu dùng hiện nay

Tại Huế, nhóm học sinh lớp 12 trường THPT Phú Bài, xã Hương Thuỷ đã đoạt giải Nhất khối học sinh phổ thông tại Ngày hội khởi nghiệp quốc gia của học sinh, sinh viên lần thứ V với dự án “Vật liệu gốm nhẹ không nung từ nguồn phế phẩm vỏ hàu và trấu”. Dự án nhằm tạo ra những sản phẩm phục vụ cho nền du lịch xanh, bảo vệ môi trường và đáp ứng xu hướng tiêu dùng hiện này là sản phẩm xanh. Sản phẩm có nguồn gốc hoàn toàn từ tự nhiên, nhẹ, không cần trải qua quá trình nung gốm, góp phần bảo vệ môi trường. Quy trình sản xuất đơn giản, tận dụng tối đa tiềm năng của phế phẩm thải, linh hoạt trong sử dụng các chất kết dính nhằm tăng chất lượng sản phẩm, đảm bảo an toàn, phù hợp với nhu cầu của người sử dụng.

Vật liệu gốm nhẹ không nung từ nguồn phế phẩm vỏ hàu và trấu
Vật liệu gốm nhẹ không nung từ nguồn phế phẩm vỏ hàu và trấu

Tại xứ dừa Bến Tre, trước đây, xơ dừa thường bị thải bỏ hoặc đốt bỏ gây ô nhiễm, nhưng hiện nay, nhiều doanh nghiệp đã tiên phong khai thác xơ dừa để làm ra hàng loạt sản phẩm thủ công mỹ nghệ như thảm trải, chổi, chậu cây và đồ nội thất, gỗ ép… trở thành nguyên liệu có giá trị xuất khẩu sang các thị trường như Hàn Quốc và Nhật Bản.

trở thành nguyên liệu có giá trị xuất khẩu sang các thị trường như Hàn Quốc và Nhật Bản
Các sản phẩm từ dừa, sơ dừa đã trở thành nguyên liệu có giá trị xuất khẩu sang các thị trường như Hàn Quốc và Nhật Bản

Tại Biên Hoà, Công ty TNHH VinaCafe Biên Hòa là một trong những đơn vị tiên phong trong việc tái sử dụng bã cà phê để sản xuất phân bón hữu cơ. Thông qua chương trình “Cà phê xanh”, công ty đã thu gom bã cà phê từ các chuỗi quán và nhà máy chế biến, sau đó phối trộn và lên men để tạo ra phân hữu cơ sử dụng trong nông nghiệp. Mô hình này đang được áp dụng thử nghiệm tại các trang trại trồng rau và hoa ở Lâm Đồng, giúp giảm chi phí phân bón hóa học và góp phần vào nền nông nghiệp sạch.

Tại Đồng Tháp, Trung tâm Dịch vụ Nông nghiệp tỉnh Đồng Tháp phối hợp với Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam triển khai mô hình cơ giới hóa thu gom rơm rạ ở huyện Lai Vung. Rơm rạ được thu gom sau thu hoạch, sử dụng chế phẩm vi sinh để xử lý thành phân hữu cơ hoặc làm nguyên liệu sản xuất nấm rơm, thức ăn chăn nuôi. Mô hình này giúp tăng độ phì nhiêu của đất, tạo thêm thu nhập cho nông dân và giảm thiểu ô nhiễm do đốt rơm (70% rơm rạ ở ĐBSCL bị đốt hoặc vùi tại đồng ruộng).

Cơ hội lớn để các doanh nghiệp Việt Nam tăng tốc phát triển sản phẩm

Rõ ràng, việc tận dụng phế phụ phẩm nông nghiệp để tạo ra các sản phẩm thân thiện với môi trường bước đầu đã cho thấy lợi ích không chỉ về kinh tế, mà còn góp phần quan trọng trong việc giảm áp lực ô nhiễm, thúc đẩy nền nông nghiệp tuần hoàn và thích ứng với biến đổi khí hậu. Tuy nhiên, hiện thực hóa tiềm năng này không phải là điều dễ dàng, khi hàng loạt rào cản về công nghệ, tài chính, chính sách và thị trường vẫn đang cản bước nhiều doanh nghiệp và nông hộ.

Một trong những thách thức lớn nhất hiện nay là công nghệ xử lý phế phẩm còn hạn chế, đặc biệt với những quy trình đòi hỏi kỹ thuật cao như chiết tách sợi sinh học, sản xuất vật liệu phân hủy sinh học hay xử lý vi sinh. Nhiều doanh nghiệp nhỏ và hợp tác xã thiếu khả năng tiếp cận thiết bị hiện đại và gặp khó khăn trong việc đạt các tiêu chuẩn kỹ thuật để đưa sản phẩm ra thị trường quốc tế. Họ cũng đối mặt với bài toán chi phí đầu tư lớn nhưng thị trường tiêu thụ lại chưa ổn định, đặc biệt là khi sản phẩm tái chế vẫn còn mới mẻ đối với nhiều người tiêu dùng trong nước.

xu hướng tiêu dùng xanh trên thị trường nội địa và quốc tế đang tạo ra những cú hích đáng kể
Xu hướng tiêu dùng xanh trên thị trường nội địa và quốc tế đang tạo ra những cú hích đáng kể cho các doanh nghiệp sản xuất xanh của Việt Nam tăng tốc phát triển

Bên cạnh đó, nhận thức cộng đồng về giá trị của phế phụ phẩm nông nghiệp vẫn còn hạn chế. Ở nhiều địa phương, nông dân vẫn có thói quen đốt rơm rạ, vỏ cà phê hay vỏ điều sau thu hoạch, vừa gây lãng phí tài nguyên, vừa góp phần gia tăng phát thải khí nhà kính và ô nhiễm không khí. Việc thu gom, phân loại và vận chuyển các phụ phẩm cũng chưa có hệ thống tổ chức rõ ràng, dẫn đến nguồn nguyên liệu đầu vào cho các nhà máy tái chế không ổn định, cả về số lượng lẫn chất lượng.

Do đó, trong những năm gần đây, các chính sách hỗ trợ từ Nhà nước đang từng bước tháo gỡ khó khăn cho lĩnh vực này. Nền tảng pháp lý về tăng trưởng xanh, kinh tế tuần hoàn và nông nghiệp bền vững đã được cụ thể hóa qua các văn bản như Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh, Luật Bảo vệ môi trường 2020 và các chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới, phát triển kinh tế nông thôn. Nhiều địa phương như Đồng Tháp, Hậu Giang, Lâm Đồng đã triển khai các mô hình thí điểm tái sử dụng rác thải nông nghiệp thành phân compost, nhiên liệu sinh học hoặc nguyên liệu cho các sản phẩm thủ công mỹ nghệ.

Song song với chính sách, xu hướng tiêu dùng xanh trên thị trường nội địa và quốc tế đang tạo ra những cú hích đáng kể. Các chuỗi siêu thị, nhà hàng và doanh nghiệp xuất khẩu ngày càng ưu tiên lựa chọn sản phẩm có nguồn gốc sinh học, bao bì tái chế, và vật liệu phân hủy tự nhiên. Đây là cơ hội lớn để các doanh nghiệp Việt Nam tăng tốc phát triển sản phẩm từ phế phụ phẩm nông nghiệp, nếu được tiếp sức bởi hệ sinh thái hỗ trợ đủ mạnh về tài chính, khoa học công nghệ và kết nối thị trường.

Để tận dụng trọn vẹn tiềm năng này, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa nhà nước, doanh nghiệp và người dân nhằm xây dựng chuỗi giá trị hoàn chỉnh từ thu gom, xử lý đến sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Khi đó, phế phụ phẩm nông nghiệp sẽ không còn là gánh nặng môi trường mà trở thành tài nguyên thực sự trong hành trình phát triển xanh và bền vững của Việt Nam.

Theo congnghiepmoitruong.vn

Phụ phẩm nông nghiệp: Tiềm năng tái chế cần được khai thác

Việt Nam mỗi năm lãng phí khoảng 8,8 triệu tấn thực phẩm, trong đó 7,3 triệu tấn là trái cây và rau củ, chủ yếu do bảo quản kém và xử lý sau thu hoạch không hiệu quả. Nnhiều phụ phẩm nông nghiệp, như vỏ trái cây có thể trở thành nguồn tài nguyên giá trị nếu được khai thác đúng cách.

Theo Tiến sĩ Trương Thục Tuyền, Chủ nhiệm bộ môn Công nghệ thực phẩm và Dinh dưỡng tại Đại học RMIT Việt Nam, các phụ phẩm này không phải là rác thải mà là tài nguyên tiềm năng. Vỏ bưởi, cam quýt chứa tinh dầu, chất xơ và các dưỡng chất quý đã được nghiên cứu và ứng dụng trong nhiều lĩnh vực từ công nghiệp thực phẩm đến mỹ phẩm. 

Mặc dù có tiềm năng lớn, việc tái chế phụ phẩm nông nghiệp ở Việt Nam vẫn gặp nhiều khó khăn. Chất lượng sản phẩm không ổn định, khả năng mở rộng hạn chế và thiếu nghiên cứu chuyên sâu là những rào cản lớn. Điển hình như vỏ bưởi chiếm tới 30% khối lượng quả nhưng hầu hết bị bỏ đi hoặc chỉ dùng làm thức ăn gia súc. Việc này không chỉ gây lãng phí mà còn tạo áp lực lên môi trường và hệ thống quản lý rác thải.

Vỏ bưởi có khả năng chuyển hóa thành aerogel – vật liệu siêu nhẹ có khả năng thấm hút dầu và thay thế chất béo trong các sản phẩm thịt (Ảnh: khoahocphothong.vn)

Để giảm thiểu lãng phí, Tiến sĩ Tuyền và nhóm nghiên cứu tại RMIT đã phát triển công nghệ tái chế vỏ bưởi thành bột hấp thụ dầu và nước, giúp thay thế chất béo trong thực phẩm mà vẫn giữ nguyên hương vị và kết cấu. Giải pháp này đang thử nghiệm và có tiềm năng sản xuất quy mô lớn, mang lại lợi ích cho ngành thực phẩm Việt Nam.

Ngoài ra, nhóm còn nghiên cứu các công nghệ bao bì thông minh từ tảo biển để kéo dài thời gian sử dụng thực phẩm, giảm hư hỏng trong quá trình vận chuyển và lưu trữ. Những sáng kiến này không chỉ giải quyết vấn đề lãng phí mà còn giúp các doanh nghiệp thực phẩm Việt Nam gia tăng giá trị sản phẩm, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về tính bền vững.

Tiến sĩ Tuyền nhấn mạnh, nếu tận dụng tốt các phụ phẩm nông nghiệp, ngành thực phẩm Việt Nam có thể tạo ra một hệ sinh thái tuần hoàn bền vững. Các giải pháp tái chế và bảo quản thông minh sẽ giúp giảm lãng phí, tối ưu hóa chuỗi cung ứng và giảm áp lực lên môi trường. Đây là cơ hội lớn để nâng cao giá trị sản phẩm, đồng thời đáp ứng nhu cầu tiêu dùng xanh của thị trường.

Đa dạng các sản phẩm

Trước đó, Phòng thí nghiệm trọng điểm Công nghệ Lọc, Hóa dầu đã thực hiện đề tài “Nghiên cứu công nghệ sản xuất giá thể hữu cơ đa dinh dưỡng, vật liệu hấp phụ và vật liệu cách nhiệt từ một số phế phụ phẩm nông nghiệp và công nghiệp chế biến thực phẩm”. Đề tài do ThS Nguyễn Tiến Hoàng làm chủ nhiệm, với mục tiêu xây dựng được công nghệ sản xuất giá thể hữu cơ đa dinh dưỡng, vật liệu hấp phụ và vật liệu cách nhiệt từ một số phế phụ phẩm nông nghiệp và công nghiệp chế biến thực phẩm như vỏ trấu, bã mía, mùn cưa,…

Để sản xuất vật liệu hấp phụ chứa carbon hoạt tính, nhóm thực hiện đề tài tiến hành sản xuất than hoạt tính với 2 nguồn đối tượng giàu xenlulose (trấu, mùn cưa) và nghèo xenlulose (hạt bơ). Than sinh học phục vụ chế tạo than hoạt tính từ các nguồn nguyên liệu trấu, mùn cưa và hạt bơ được sản xuất với các điều kiện tối ưu. Theo đó, tốc độ nạp liệu phù hợp để sản xuất than hoạt tính đối với nguyên liệu tro trấu và hạt bơ là 30kg/h, đối với nguyên liệu mùn cưa là 34kg/h. Tốc độ dòng hơi nước hoạt hóa tối ưu được xác định là 300 lít/phút. Tốc độ quạt hút tối ưu được xác định là 800 m3/h.

Đối với sản phẩm cách nhiệt silica vô định hình sử dụng vật liệu từ vỏ trấu, nhóm nghiên cứu đã đưa ra được thông số phù hợp để sản xuất vật liệu cách nhiệt từ trấu. Sản phẩm thu được từ quá trình nhiệt phân vỏ trấu trong đề tài đã đáp ứng được yêu cầu làm chất cách nhiệt trong xây dựng với các thông số cụ thể như sau: hàm lượng silica vô định hình đạt trên 98%, hàm lượng cacbon nhỏ hơn 1%, diện tích bề mặt riêng theo BET đạt 180m2/g, khối lượng riêng đổ đống đạt 2,31 g/cm3 và độ dẫn nhiệt đạt 0,016 W/m.K. 

Việt Nam có sản lượng trấu dồi dào, ước tính khoảng 8-9 triệu tấn/ năm

Do tận dụng được nguồn phụ phẩm của ngành chế biến nông sản rất sẵn có ở Việt Nam. Các phụ phẩm này đang là nguồn thải cần xử lý của các doanh nghiệp chế biến nông sản, đồng thời, nhờ áp dụng công nghệ sản xuất hiệu quả, đồng bộ từ khâu thu gom, sơ chế, bảo quản đến khâu sản xuất ra thành phẩm, tận thu sản phẩm phụ, các sản phẩm của đề tài có chất lượng tốt, giá thành rất cạnh tranh so các sản phẩm trên thị trường”, chủ nhiệm đề tài ThS Nguyễn Tiến Hoàng nhấn mạnh.

Không chỉ dừng lại ở các đề tài nghiên cứu lớn, phế phụ phẩm nông nghiệp cũng được các em học sinh quan tâm, tìm tòi và nghiên cứu để tái chế. Năm 2026, nhóm học sinh Trường THPT Nguyễn Khuyến (An Giang) cũng đã sáng tạo ra một loại chậu trồng cây và lọ ươm cây được làm từ bã mía và thân cây chuối. Ý tưởng được các em thực hiện sau khi chứng kiến quá nhiều bã mía từ các xe nước mía chất thành đống; cũng như nhiều thân chuối bị chặt bỏ sau khi thu hoạch quả, tiềm ẩn nguy cơ gây ô nhiễm môi trường. Do đó, các em đã tiến hành thu gom các phế phẩm bã mía và thân chuối để tận dụng làm chậu trồng cây, góp phần bảo vệ môi trường sống.

Sản phẩm chậu trồng cây được làm từ bã mía và thân cây chuối có tính ứng dụng cao trong đời sống (Ảnh: Thanh niên)

Với tính hữu dụng trong cuộc sống và thân thiện với môi trường, sản phẩm chậu cây được làm từ bã mía và thân cây chuối đạt giải nhì Cuộc thi khoa học kỹ thuật dành cho học sinh trung học năm học 2022 – 2023 tỉnh An Giang. Hiện sản phẩm được Trường THPT Nguyễn Khuyến sử dụng trồng, ươm cây khắp khuôn viên trường.

Theo scp.gov.vn

Tạo công ăn việc làm từ…. phế phẩm nông nghiệp

Mo cau vốn là phế phẩm nông nghiệp, tuy nhiên anh Nguyễn Văn Tuyến (Quảng Ngãi) đã “biến tấu” thành các sản phẩm hữu dụng như chén, dĩa… xuất ngoại sang Hàn Quốc, Canada, Ba Lan, Mỹ… mang về nguồn thu lớn, tạo công ăn việc làm ổn định cho người dân địa phường vừa góp phần bảo vệ môi trường.

Tạo giá trị mới cho mo cau

Về huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi, chỉ cần hỏi “Tuyến mo cau” ai cũng biết bởi anh không chỉ nổi tiếng với câu chuyện “hô biến” mo cau mà còn tạo công ăn việc làm cho hàng trăm lao động là người lớn tuổi, mất khả năng lao động ở quê.

h1.jpg
Anh Nguyễn Văn Tuyến người “hô biến” những chiếc mo cau thành sản phẩm vật dụng gia đình

Anh Nguyễn Văn Tuyến (quê gốc ở Phú Yên) chia sẻ, anh vốn là một người đam mê các sản phẩm thân thiện với môi trường nên sau khi tốt nghiệp Đại học Giao thông Vận tại nhưng lại không theo nghề mà rẽ sang thu mua, chế biến và xuất khẩu những phế phẩm nông nghiệp. Tại đây anh cùng nhóm bạn thành lập công ty thu gom cùi bắp, bã mía, lá xoài khô… và biến tất cả thành hàng xuất khẩu sang các thị trường nước ngoài để làm giá thể sản xuất nông nghiệp.

h2.jpg
Cơ sở chế biến sản phẩm từ mo cau của anh Tuyến đang tạo công ăn việc làm cho nhiều người dân ở địa phương

Năm 2019, tình cờ dừng chân ở Quảng Ngãi, anh Nguyễn Văn Tuyến đã choáng ngợp trước số lượng cau ở vùng đất này. Thời điểm này, người dân chỉ thu hoạch trái cau để bán. Riêng mo cau rơi rụng khắp nơi, họ chỉ xem đó là vật phế phẩm đem đốt hoặc bỏ đi. Đúng lúc ấy, anh đã tìm hiểu trên mạng và tiếp cận được các thông tin về sản phẩm làm từ mo cau ở Ấn Độ. Ngay lập tức, trong đầu anh liên tưởng sẽ biến mo cau ở đây thành những đồ dùng hữu ích.

Cuối năm 2019, anh bắt đầu nhập máy móc từ Ấn Độ về lắp ráp, mở xưởng thu mua mo cau để làm chén, đĩa, khay đựng thức ăn… tại huyện Nghĩa Hành – một trong những vùng trồng cau lớn nhất Quảng Ngãi.

h3.jpg
Những sản phẩm gia dụng độc đáo thân thiện với môi trường được làm từ mo cau

Mo cau sau khi thu gom được chà rửa sạch sẽ, ngâm nước cho mềm, để ráo và đưa vào khuôn ép nhiệt tạo hình. Tùy vào yêu cầu của khách hàng, cơ sở chế tạo các loại khuôn ép khác nhau. Do đó, sản phẩm được ép ra sẽ có hình dáng đa dạng, có thể in được hình ảnh lên sản phẩm theo yêu cầu của khách hàng.

Theo anh Tuyến, các sản phẩm này đủ độ chắc và không thấm nước, khử khuẩn, đóng gói trong bao nylon ép nhiệt, có thể đựng thức ăn, trái cây, mắm, muối, gia vị… Bên cạnh đó, giá lại rẻ chỉ từ 1.000 – 3.000 đồng/cái và có thể tái sử dụng, nên khi sử dụng người dân có thể giảm bớt sử dụng tô nhựa, ly nhựa, hộp xốp hiện đang là vấn nạn đối với môi trường hiện nay.

Tạo việc làm ổn định cho người dân

Năm 2020, anh Tuyến đã đưa các sản phẩm của mình đến triển lãm ở các hội chợ để giới thiệu sản phẩm. Rất nhanh, sản phẩm độc đáo từ mo cau đã tạo được tiếng vang với nhiều đơn hàng. Đơn hàng đầu tiên khẳng định sự thành công của sản phẩm chén, đĩa mo cau đến từ một hãng hàng không lớn. Đơn vị này đã đặt hàng nghìn sản phẩm để phục vụ cho hành khách ở khoang thương gia.

h5.jpg
Người dân trồng cau ở Quảng Ngãi nay có thêm công việc mà trước giờ họ chưa từng nghĩ tới, đó là nhặt mo cau bán lấy tiền

Thành công nối tiếp thành công, những đơn hàng xuất khẩu sang Mỹ, Canada, Ba Lan, Hà Lan… liên tiếp được ký kết. Do đó, lượng hàng xuất khẩu chiếm đến 90%, giúp cơ sở sản xuất có doanh thu hàng trăm triệu đồng mỗi tháng, giải quyết việc làm cho nhiều lao động địa phương.

Hiện cơ sở sản xuất của anh có 9 máy ép, mỗi máy có 5 khuôn. Trung bình mỗi tháng, cơ sở cung cấp cho thị trường khoảng 600.000 sản phẩm chén, đĩa, khay ăn… bằng mo cau, tạo công ăn việc làm liên tục cho 15 lao động, với thu nhập từ 200.000 – 250.000 đồng/ngày.

Bên cạnh công việc ở xưởng sản xuất sản phẩm từ mo cau, người dân trồng cau ở Quảng Ngãi còn có thêm công việc mà trước giờ họ chưa từng nghĩ tới, đó là nhặt mo cau bán lấy tiền. Mỗi chiếc mo cau được anh Nguyễn Văn Tuyến thu mua với giá 1.000 đồng. Ước tính, 1 ha cau sẽ có khoảng 12.500 chiếc mo/năm. Nếu anh Tuyến thu mua mo cau với giá 1.000 đồng/chiếc, người dân sẽ “bỏ túi” 12,5 triệu đồng/ha. Điều này giúp bà con có thêm nguồn thu nhập kha khá ngoài việc bán quả cau.

Bà Nguyễn Thị Qúy ở xã Hành Đức, huyện Nghĩa Hành cho biết, từ ngày có xưởng sản xuất sản xuất mo cau, bà con có thêm nghề thu nhặt mo cau mang bán. Ai cũng mừng vì có thêm nguồn thu ngập góp thêm tiền đi chợ hàng ngày.

z5369050648468_e184c3292586d9e7054a16de1d9f9cd7.jpg
Những phiên chợ mo cau ở huyện Nghĩa Hành (Quảng Ngãi)

Anh Nguyễn Văn Tuyến, chia sẻ: “Trước đây cây cau chỉ có giá trị ở phần trái, giờ đến mo cau. Riêng những ý tưởng tăng giá trị cho tất cả phần khác của cây cau, chúng tôi sẽ hiện thực hóa, để bà con trồng cau, tận thu từ gốc đến ngọn”.

Lãnh đạo UBND huyện Nghĩa Hành (tỉnh Quảng Ngãi) cho rằng, lâu nay mo cau hầu như không mang lại giá trị kinh tế. Nay nhờ cơ sở sản xuất của anh Nguyễn Văn Tuyến mà người dân vừa có thêm việc làm, thu nhập. Các sản phẩm từ mo cau khá độc đáo, vừa an toàn cho người sử dụng vừa góp phần bảo vệ môi trường. Đây được xem là hướng đi mới, đầy triển vọng ở địa phương.

Theo nongnghiepmoitruong.vn

Biến rác thải nông nghiệp thành nguồn lợi bền vững

Lâm Đồng đang khuyến khích người dân tận dụng phế phẩm nông nghiệp làm phân hữu cơ, vừa bảo vệ môi trường vừa tăng lợi nhuận.

Nỗi lo rác thải ngày một lớn

Chất thải từ sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt tại Lâm Đồng đang tạo áp lực lớn cho công tác bảo vệ môi trường. Trong giai đoạn 2021 – 2024, tỉnh đã bố trí nguồn lực đáng kể cho hoạt động thu gom, xử lý rác thải. Tuy nhiên, khối lượng chất thải phát sinh ngày càng tăng khiến nhu cầu xử lý trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết.

Ông Hoàng Xuân Hải, ở xã Lạc Dương cùng cộng sự đã chi hàng tỷ đồng đầu tư máy móc, vật tư, nguyên liệu, chất phụ gia để tự sản xuất phân hữu cơ với quy mô 5 tấn phân thành phẩm mỗi ngày. Ảnh: Khắc Lịch.
Ông Hoàng Xuân Hải, ở xã Lạc Dương cùng cộng sự đã chi hàng tỷ đồng đầu tư máy móc, vật tư, nguyên liệu, chất phụ gia để tự sản xuất phân hữu cơ với quy mô 5 tấn phân thành phẩm mỗi ngày. Ảnh: Khắc Lịch.

Lâm Đồng hiện có hơn 24.000 km² diện tích, dân số trên 3,8 triệu người với 14 khu công nghiệp, 38 cụm công nghiệp, 33 làng nghề cùng nhiều trang trại chăn nuôi, sản xuất nông nghiệp quy mô lớn. Mỗi ngày, tỉnh phải thu gom và xử lý hàng nghìn tấn chất thải rắn, trong đó phần lớn phát sinh từ sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp.

Tại TP Đà Lạt cũ, lượng chất thải sinh hoạt phải thu gom lên tới 300 tấn/ngày nhưng công suất nhà máy xử lý chỉ đạt 200 tấn. Lượng rác tồn đọng tích trữ trên diện tích 10ha tại Nhà máy xử lý chất thải rắn Xuân Trường đã gây ô nhiễm, sạt lở, phát sinh nhiều khiếu kiện của người dân. Trong khi đó, rác thải nông nghiệp phần lớn chưa được xử lý đúng quy định, nhiều hộ dân đổ bỏ ngay tại đồng ruộng, mương suối, gây ách tắc dòng chảy và ngập úng cục bộ.

Các phong trào như “Gia đình 5 không, 3 sạch”, “Phụ nữ thân thiện với môi trường” hay “Xây dựng hố rác gia đình” đã được phát động nhưng còn manh mún, thiếu trang thiết bị, chưa đủ sức giải quyết bài toán rác thải. Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Lâm Đồng, giai đoạn 2025 – 2030, địa phương cần khoảng 6.500 – 7.000 tỷ đồng để xử lý chất thải, đảm bảo môi trường.

Tận dụng chất thải làm phân hữu cơ

Trong khó khăn, nhiều hộ nông dân đã tìm hướng đi mới. Cụ thể, tận dụng phế phẩm nông nghiệp để sản xuất phân hữu cơ. Đây là giải pháp giúp giảm chi phí, chủ động nguồn phân bón, đồng thời góp phần bảo vệ môi trường.

Tại các vùng chuyên canh rau, hoa ở Đà Lạt, Lạc Dương, Đơn Dương, lượng rác thải nông nghiệp phát sinh mỗi năm rất lớn. Ông Nguyễn Văn Thắng, ngụ phường LangBiang (Đà Lạt), cho biết: “Mỗi lứa rau, hoa sau thu hoạch có 10 – 20% là phế thải, thậm chí có lúc vượt quá 50% khi sản phẩm rớt giá. Trước đây, bà con thường đổ bỏ ra mương suối, nay nhiều hộ đã gom lại làm phân hữu cơ để tái sử dụng”.

Điển hình, ông Hoàng Xuân Hải (xã Lạc Dương) cùng một số hộ liên kết đã xây dựng nhà xưởng 1.000m², đầu tư hàng tỷ đồng máy móc để sản xuất phân hữu cơ quy mô 5 tấn/ngày. Nguyên liệu gồm phân heo, đạm cá, NPK và phế phẩm nông nghiệp đã được xử lý. Thành phẩm là phân hữu cơ dạng viên nén, bảo quản lâu, phù hợp nhiều loại cây trồng và thân thiện với môi trường.

Nhờ chủ động nguồn phân bón, cây trồng của gia đình ông Hải sinh trưởng tốt, năng suất tăng, chi phí giảm đáng kể. Tuy nhiên, ông cũng thừa nhận khó khăn lớn nhất hiện nay là sản phẩm chưa được cấp phép kinh doanh, mới chỉ phục vụ nội bộ cho các hộ liên kết.

Hiện nay, việc tận dụng nguồn rác thải để xử lý thành phân hưu cơ là hướng đi cần thiết và mang lại hiệu quả cao. Ảnh: Phạm Hoài.
Hiện nay, việc tận dụng nguồn rác thải để xử lý thành phân hưu cơ là hướng đi cần thiết và mang lại hiệu quả cao. Ảnh: Phạm Hoài.

Hướng đi bền vững cho nông nghiệp

Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Lâm Đồng, việc khuyến khích người dân tận dụng chất thải nông nghiệp để sản xuất phân hữu cơ là hướng đi cần thiết. Giải pháp này vừa góp phần giảm áp lực thu gom rác, tiết kiệm ngân sách, vừa tạo ra giá trị gia tăng cho nông dân.

Thực tế cho thấy, các mô hình sản xuất phân hữu cơ từ phế phẩm nông nghiệp đã bước đầu chứng minh hiệu quả kinh tế và môi trường. Nếu được hỗ trợ về thủ tục, công nghệ và đầu ra, đây sẽ là hướng phát triển bền vững, gắn kết giữa bảo vệ môi trường với nâng cao thu nhập cho người dân.

Lâm Đồng – một trong những “thủ phủ” nông nghiệp của cả nước  có tiềm năng rất lớn để nhân rộng mô hình này. Bài toán chất thải nông nghiệp sẽ dần được giải quyết nếu rác thải được coi là nguồn nguyên liệu quý cho ngành sản xuất phân hữu cơ, thay vì gánh nặng của môi trường.

Theo Báo Nông Nghiệp và Môi Trường

Những người nông dân xứ Thanh biến phế phẩm nông nghiệp thành sản phẩm xanh xuất khẩu

Từ những phế phẩm nông nghiệp hay những thứ tưởng chừng là rác, không có giá trị, nhưng những người trẻ Thanh Hóa đã thắp lên ngọn lửa sáng tạo, biến chúng thành những sản phẩm thân thiện với môi trường, mang thương hiệu Việt Nam ra thế giới.

phe-pham-nong-nghiep-1-1751810236.jpg
Nước tẩy rửa bằng vỏ dứa của Công ty TNHH Fuwa Biotech xuất khẩu sang các Mỹ và các nước EU

Biến phế phẩm thành chất tẩy rửa xanh

Mỗi năm, các vùng trồng dứa của Thanh Hóa thải ra hàng chục nghìn tấn vỏ dứa. Trước đây, lượng phế phẩm này thường bị vứt bỏ ngoài đồng ruộng hoặc chôn lấp, gây ô nhiễm môi trường. Tuy nhiên, nhờ sự sáng tạo của kỹ sư Lê Duy Hoàng, những đống vỏ dứa bỏ đi ấy đã bước sang một hành trình mới, trở thành “vàng xanh” để xuất khẩu.

Từng có một công việc ổn định tại Hà Nội, nhưng niềm đam mê nông nghiệp vẫn luôn thôi thúc anh Hoàng trở về quê hương Thanh Hóa để tìm tòi, nghiên cứu, góp phần giảm bớt nhọc nhằn cho người nông dân. Một lần trở về quê, chứng kiến những cánh đồng ngập tràn vỏ dứa thối rữa, bốc mùi nồng nặc sau mỗi vụ thu hoạch, anh càng thêm quyết tâm hành động.

Từ đó, anh bắt đầu mày mò nghiên cứu quy trình lên men vỏ dứa. Ban đầu, ý tưởng của anh chỉ đơn giản là tạo ra nước lau nhà an toàn cho gia đình. Trong quá trình tìm tòi, anh may mắn gặp gỡ một chuyên gia người Nhật Bản, người đã hướng dẫn anh kỹ thuật lên men enzyme tự nhiên, mở ra tiềm năng lớn hơn cho loại phế phẩm nông nghiệp này.

Trải qua hàng trăm lần thử nghiệm thất bại, đến năm 2019, anh Hoàng thành lập Công ty TNHH Fuwa Biotech, chính thức đưa ra thị trường các sản phẩm tẩy rửa sinh học chiết xuất enzyme từ vỏ dứa lên men.

“Chúng tôi tạo ra sản phẩm trước hết để bảo vệ sức khỏe gia đình khỏi hóa chất độc hại, sau đó mới nghĩ đến kinh doanh. Từ sự giản dị ấy, sản phẩm đã dần được mọi người đón nhận,” anh Hoàng chia sẻ.

phe-pham-nong-nghiep-2-1751810370.jpg
Những vỏ dứa được vứt bỏ ngoài đồng được công ty đem về lên men thành chất tẩy rửa, bã thải bán cho trang trại chăn nuôi

Không dừng lại ở thị trường trong nước, Fuwa Biotech đã từng bước chinh phục các thị trường khó tính như Mỹ, Đức, Singapore, Malaysia… Các sản phẩm đạt chứng nhận OCOP 4 sao cùng nhiều giải thưởng quốc tế về khởi nghiệp sinh thái. Quan trọng hơn, toàn bộ quy trình sản xuất của Fuwa được xây dựng theo mô hình kinh tế tuần hoàn: sau khi chiết xuất enzyme, phần bã còn lại tiếp tục được tận dụng làm phân bón hữu cơ hoặc thức ăn chăn nuôi. Công ty cũng khuyến khích khách hàng tái sử dụng chai lọ cũ thông qua hình thức refill, góp phần giảm thiểu rác thải nhựa ra môi trường.

Hành trình đưa tre, cói vươn ra thế giới

Những năm gần đây, rác thải nông nghiệp không chỉ là nỗi lo của các chuyên gia mà còn khiến nhiều người dân trăn trở. Ở Thanh Hóa, nhiều bạn trẻ đã tìm ra hướng đi mới từ những nguyên liệu quen thuộc như tre, cói – những thứ trước đây chỉ được coi là nguyên liệu thô, chưa được tận dụng hết giá trị.

Tại huyện Nga Sơn (cũ), vùng đất trước kia còn nghèo khó, nghề dệt chiếu cói từng chỉ bán quanh quẩn trong nước, nay đã bước ra thị trường thế giới. Anh Phạm Minh Tôn, Giám đốc Công ty CP Việt Anh, là người tiên phong mở đường. Năm 2011, sau nhiều lần thất bại, lô chiếu cói đầu tiên của anh đã được xuất khẩu sang châu Âu. Để đáp ứng yêu cầu khắt khe về chất lượng, độ bền và độ an toàn, anh Tôn cùng cộng sự kiên trì điều chỉnh quy trình sản xuất. Giờ đây, chiếu cói, thảm cói Nga Sơn đã có mặt tại nhiều thị trường khó tính như Mỹ, Nhật Bản, Pháp, Anh…

phe-pham-nong-nghiep-3-1751810596.jpg
Sản phẩm từ cói của một vùng quê nghèo Nga Sơn đã được anh Phạm Minh Tôn biến thành hàng hóa chất lượng cao được người tiêu dùng ở các nước đón nhận (ảnh nhân vật cung cấp)

Hay những cây tre già trên quê hương huyện Thường Xuân (cũ), anh Lê Xuân Lâm đã tìm ra một hướng đi mới đầy táo bạo. Thay vì để tre chỉ đơn thuần là nguyên liệu cho các sản phẩm truyền thống, anh Lâm quyết định làm ống hút tre, một sản phẩm thân thiện với môi trường để thay thế ống hút nhựa dùng một lần. Sau nhiều năm nỗ lực, sản phẩm ống hút tre của anh đã xuất hiện và được đón nhận tại nhiều siêu thị ở Nhật Bản, Hàn Quốc, Đức và các quốc gia khác.

Có thể thấy, những sản phẩm xanh, gần gũi với thiên nhiên đều được mọi người đón nhận và trân trọng. Nếu mỗi người đều có quyết tâm, bằng tài năng và sự sáng tạo không ngừng, chắc chắn sẽ tìm ra hướng đi phù hợp để biến những nguyên liệu tưởng chừng như bỏ đi trở thành sản phẩm có ích, vừa bảo vệ môi trường vừa phát triển kinh tế quê hương.

phe-pham-nong-nghiep-1-1751810709.jpeg
Những ống tre tưởng chừng không có giá trị được anh Lê Xuân Lâm tái chế thành sản phẩm thủ công độc đáo, góp phần xuất khẩu ra thị trường quốc tế.

Đặc biệt, từ những lợi thế sẵn có của thiên nhiên, cùng với sự hỗ trợ kịp thời của chính quyền địa phương và các tổ chức khởi nghiệp, nhiều bạn trẻ đã mạnh dạn tìm tòi, thử nghiệm và hoàn thiện sản phẩm. Chính sự kiên trì đổi mới, không ngại khó, ngại thất bại đã giúp họ chinh phục được những thị trường khó tính như Nhật Bản, Hàn Quốc hay châu Âu, từng bước nâng tầm giá trị sản phẩm xanh của Việt Nam trên bản đồ thế giới.

Theo Sở Công Thương Thanh Hóa, năm 2024, kim ngạch xuất khẩu của tỉnh ước đạt gần 6,3 tỷ USD, tăng 23,4% so với cùng kỳ, vượt kế hoạch đề ra. Trong đó, các sản phẩm từ lâm sản như đũa tre, ống hút tre, dăm gỗ, thảm cói chiếm một phần quan trọng. Tuy vậy, con số này vẫn còn khá khiêm tốn so với tiềm năng lớn từ nguồn nguyên liệu phong phú của địa phương.

Trong bối cảnh người tiêu dùng trên thế giới ngày càng ưa chuộng những sản phẩm thân thiện với môi trường, Thanh Hóa đang đứng trước cơ hội mở rộng thị trường cho các sản phẩm xanh. Nếu được hỗ trợ thêm về vốn, công nghệ và kết nối thị trường, cùng với việc nâng cao quy trình sản xuất đạt chuẩn quốc tế, những sản phẩm từ tre, cói, dứa… hoàn toàn có thể vươn xa hơn nữa, khẳng định chỗ đứng trên bản đồ xuất khẩu xanh của Việt Nam và thế giới.

Theo doanhnghiepkinhtexanh.vn

Lợi ích kép từ nguồn phế phẩm, phụ phẩm nông nghiệp

Nếu được tận dụng triệt để, các loại phế phẩm, phụ phẩm nông nghiệp sẽ trở thành nguồn tài nguyên tái tạo, không những bảo vệ môi trường mà còn mang lại lợi ích rất lớn về kinh tế, xã hội cho đất nước.

Ngành nông nghiệp của nước ta đã có bước chuyển mình mạnh mẽ. Từ trồng trọt, chăn nuôi bằng các phương thức truyền thống, người dân và các doanh nghiệp đang từng bước chuyển sang sản xuất theo hướng thị trường, nâng cao chất lượng và giá trị cho các sản phẩm. Tuy nhiên, nền nông nghiệp vẫn còn một điểm yếu là để lãng phí hàng triệu tấn phế phẩm, phụ phẩm nông nghiệp, gây ô nhiễm môi trường.

Nông nghiệp là ngành kinh tế quan trọng bậc nhất của đất nước nên
lượng phế phẩm, phụ phẩm rất lớn (Ảnh KT)
Nông nghiệp là ngành kinh tế quan trọng bậc nhất của đất nước nên lượng phế phẩm, phụ phẩm rất lớn (Ảnh KT)

Nhận thấy lượng phế phẩm, phụ phẩm này là nguồn tài nguyên có thể tạo ra lợi ích kép, ông Hà Văn Thắng, Chủ tịch HĐQT Công ty cổ phần T&T 159, đã đầu tư vào sản xuất nông nghiệp công nghệ cao. Đó là mô hình chăn nuôi bò bằng đệm lót sinh học. Với giải pháp này, bò phát triển đồng đều, tăng trưởng tốt, ít bị dịch bệnh. Đặc biệt, giải pháp này còn giúp công ty của ông tận dụng được nguồn phế phẩm, phụ phẩm của bà con nông dân, giúp tiết kiệm chi phi đầu vào, đồng thời loại được được mùi hôi chuồng trại và giảm phát thải ra môi trường. “Khi tôi làm mô hình này, có người hỏi tôi là cỏ đâu mà nuôi bò? Đây là mô hình kinh tế tuần hoàn, 100% đầu vào là phế phẩm, phụ phẩm nông nghiệp, như rơm, thân cây ngô, cây đậu…là những thứ mà người ta thường đốt, bỏ đi, gây ô nhiễm. Hay ở đây, chúng tôi sử dụng đệm lót sinh học để xử lý chất thải của bò. Phân, nước tiểu của gia súc được thu lại làm thức ăn cho vi khuẩn, sản suất ra phân vi sinh. Chất thải của bò không bị phát tán ra ngoài, không gây ô nhiễm”, ông Hà cho biết.

Với mô hình kinh tế tuần hoàn, ngoài sản phẩm là thịt của vật nuôi, công ty của ông Thắng còn có thêm nguồn thu đáng kể từ lớp đệm lót sinh học được sử dụng để sản xuất ra các loại phân bón hữu cơ. Từ thực tế tại công ty, ông Thắng cho rằng “kinh tế tuần hoàn” sẽ là hướng đi tất yếu bởi những lợi ích kép mà nó mang lại. “Phế, phụ phẩm nông nghiệp của nước mình khoảng 100 triệu tấn/năm. Đây là nguồn nguyên liệu rất lớn. Khi tôi làm mô hình này, có đoàn cán bộ, lãnh đạo của Thái Bình lên tham quan, nghiên cứu. Sau đó, về điều tra họ thấy mỗi năm bà con trong tỉnh đốt bỏ khoảng 1,4 triệu tấn phụ phẩm, phế phẩm, có nghĩa họ đốt bỏ khoảng 7 ngàn tỉ/năm. Không chỉ nghèo, xử lý như vậy còn làm mất cân bằng hệ sinh thái”, ông Thắng chia sẻ.

Hiện mới chỉ có một phần nhỏ phế phẩm, phụ phẩm nông nghiệp được tận dụng
Hiện mới chỉ có một phần nhỏ phế phẩm, phụ phẩm nông nghiệp được tận dụng

Ở nước ta, những công ty hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp với mô hình kinh tế tuần hoàn như T&T 159 hiện chưa nhiều. Tuy nhiên, đáng mừng là một số cá nhân cũng đã tiến hành các hoạt động sản xuất theo hướng xanh và bền vững. Có thể kể đến là ông Nguyễn Xuân Hùng, ở xã Phù Đổng, huyện Gia Lâm, Hà Nội với trang trại trồng hoa, cây cảnh, cây ăn quả kết hợp nuôi giun quế. Trong số hơn 15 héc-ta, ông Hùng dành ra hơn hơn 1 héc-ta để nuôi giun quế.

Ông Hùng cho biết, nhờ việc nuôi giun quế, hàng tháng, thay vì phải chi tiền mua phân bón, ông còn có thêm một khoản thu từ việc bán giun quế thành phẩm, giun quế giống và phân sạch từ chất thải của giun. Đặc biệt, từ khi áp dụng mô hình này, mỗi ngày, ông còn góp phần giảm thiểu hàng chục tấn chất thải từ hoạt động chăn nuôi của bà con nông dân ra môi trường. “Tôi được một vị chủ tịch hiệp hội giun quế ở trong thành phố Hồ Chí Minh hướng dẫn nuôi giun từ năm 2015. Tôi triển khai từ đó. Đến nay, mỗi ngày tôi thu gom và xử lý khoảng 30 tấn phân bò từ các trang trại chăn nuôi bò sữa của bà con trong xã. Tôi quyết tâm thực hiện việc này vì muốn làm cho môi trường càng ngày xanh, sạch, đẹp”, ông Hùng chia sẻ.

Ông Trần Xuân Tĩnh, Chủ tịch UBND xã Phù Đổng, huyện Gia Lâm, Hà Nội cho biết, địa phương có nghề chăn nuôi bò sữa từ lâu. Mỗi ngày đàn bò của người dân thải ra hàng chục tấn phân. Trước đây, chỉ có một số hộ sử dụng phân làm hầm biogas. Lượng phân còn lại bị thải ra ao, hồ, mương, rãnh gây ô nhiễm môi trường. Từ ngày có mô hình trồng trọt kết hợp nuôi giun quế của Hợp tác xã Hiệp Thư do ông Hùng làm chủ đã hạn chế đáng kể vấn đề ô nhiễm tại địa phương. “Chúng tôi đánh giá cao mô hình nuôi giun quế của HTX Hiệp Thư, góp phần đáng kể trong việc xử lý, hạn chế ô nhiễm môi trường do chăn nuôi trên địa bàn”, ông Tĩnh đánh giá.

Những năm qua, ngành nông nghiệp nước ta không ngừng đổi mới, sáng tạo, áp dụng tiến bộ của khoa học, kỹ thuật vào sản xuất. Tuy nhiên, ngoài các sản phẩm, giá trị cốt lõi, hiện vẫn còn một lượng lớn phế phẩm, phụ phẩm bị thải loại một cách lãng phí. Từ thực tế như hai mô hình vừa đề cập, có thể nói nếu được tận dụng, đây sẽ là nguồn tài nguyên có thể mang lại lợi ích kép, đồng thời góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường./.

Theo VOV.VN