Lợi ích kép của tháp rau hữu cơ từ rác thải

Phát huy hiệu quả tính cộng sinh và tái chế, quá trình xây dựng hệ nông nghiệp sinh thái có thể mang lại sinh kế, cũng như thu nhập cho nhiều người.

Một mô hình trồng rau ứng dụng công nghệ tưới tiên tiến ở Hà Nội.
Một mô hình trồng rau ứng dụng công nghệ tưới tiên tiến ở Hà Nội.

Cộng sinh các thành tố

Nếu tính đa dạng là chìa khóa cho quá trình chuyển đổi nông nghiệp sinh thái quan hệ cộng sinh giúp tăng cường các chức năng chính của hệ thống lương thực thực phẩm. Thông qua việc tối ưu hóa quan hệ cộng sinh, thực hành nông nghiệp sinh thái giúp tăng cường các chức năng sinh thái, và tăng hiệu quả sử dụng tài nguyên và khả năng chống chịu.

Quan hệ cộng sinh trong nông nghiệp sinh thái vốn được con người sử dụng từ ngàn đời này thông qua hình thức cố định ni tơ sinh học bằng cây họ đậu trong các hệ thống xen canh hoặc luân canh. Theo FAO, cách làm này giúp tiết kiệm khoảng 10 triệu USD tiền phân đạm mỗi năm, trong khi vẫn góp phần đảm bảo sức khỏe đất. Một cách làm nữa, là khoảng 15% phân đạm dùng cho cây trồng có nguồn gốc từ phân gia súc. Đây cũng là quan hệ cộng sinh trong nông nghiệp sinh thái, dựa trên kết hợp cây trồng – vật nuôi. Tại Việt Nam, quan hệ cộng sinh phổ biến hiện nay là mô hình trồng lúa – nuôi tôm, đang thịnh hành tại nhiều vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

Từ quan hệ cộng sinh, các thành tố trong hệ nông nghiệp sinh thái sẽ xử lý hiệu quả hơn chất thải, cũng có nghĩa tái chế nhiều hơn. Bằng cách bắt chước hệ sinh thái tự nhiên, thực hành nông nghiệp sinh thái thúc đẩy tái chế chất dinh dưỡng, sinh khối và nước trong hệ thống sản xuất, qua đó tăng hiệu quả sử dụng tài nguyên.

Tái chế nhiều hơn đồng nghĩa với sản xuất nông nghiệp với chi phí kinh tế và môi trường thấp hơn. Nó có thể diễn ra ở quy mô trang trại và trong toàn bộ cảnh quan, thông qua đa dạng hóa và xây dựng quan hệ cộng sinh giữa các thành phần. Một ví dụ được Nhóm khởi nghiệp Tháp rau hữu cơ Eco Việt Nam ứng dụng là tháp rau hữu cơ, nhằm tận dụng các thùng phuy nhựa.

Tháp rau hữu cơ Eco cao gần ngang ngực người lớn.
Tháp rau hữu cơ Eco cao gần ngang ngực người lớn.

Ông Trần Đình Khâm, thành viên nhóm cho biết, tháp mặc định có 6 tầng, thiết kế theo phương thẳng đứng, khi trồng chiếm diện tích mỗi tháp khoảng 1m2 nhưng sản lượng rau thu hoạch tương đương với 4 – 5m2 mặt phẳng.

Sự đặc biệt của tháp rau hữu cơ Eco chính là lõi vi sinh và các bộ phận đi kèm như khay chắn rác và khay đựng dịch trà trùn (một loại nước tưới giàu dinh dưỡng). Lõi vi sinh có đường kính 15cm, cao xấp xỉ 1m, mỗi tháng xử lý được khoảng 30kg rác hữu cơ tươi nhờ nguyên lý ủ compost và sự hoạt động tích cực từ trùn (giun) và hệ vi sinh tự nhiên trong đất.

Lõi vi sinh này đóng vai trò như cơ quan tiêu hóa của tháp rau, khi rác phân hủy là thức ăn nuôi trùn. Nước rác phân hủy, nước dịch trùn và nước tưới dư chảy xuống dưới được thu lại bởi khay đựng dịch trà trùn, và được người trồng dùng để tưới lại trực tiếp cho rau.

Trùn ăn rác hữu cơ hoai mục ra đất sống, vừa đào xới giúp đất tơi xốp, vừa thải phân trùn khắp nơi làm tăng độ màu mỡ của đất. Sau khoảng 3 tháng, rác hữu cơ trong lõi tháp được xử lý thành phân hữu cơ, và có thể sử dụng để bón lại cho tháp.

Nhờ nguyên lý tuần hoàn tự nhiên này, người trồng tháp rau hữu cơ Eco không cần bón phân, thay đất. Càng trồng đất lại càng tốt và màu mỡ. Đặc biệt, lõi tháp còn đóng vai trò tạo ra dòng không khí luân chuyển trong đất, cộng thêm đất tơi xốp nhờ trùn di chuyển nên đất luôn rất giàu oxi, giúp cho rễ cây dễ dàng hấp thụ oxi và khoáng chất. Cây phát triển nhanh hơn.

Chu trình dinh dưỡng chiếm khoảng 51% giá trị kinh tế của tất cả các dịch vụ gián tiếp từ hệ sinh thái, và việc tái chế giúp mang lại nhiều lợi ích cho các chu trình dinh dưỡng, giúp giảm phụ thuộc vào tài nguyên bên ngoài.

Mô hình tháp rau hữu cơ trên nóc một tòa nhà chung cư.
Mô hình tháp rau hữu cơ trên nóc một tòa nhà chung cư.

Nguồn thu kinh tế

Quan điểm nông nghiệp sinh thái không chỉ hữu ích tại nông thôn, hoặc những nơi có diện tích rộng, mà còn có thể xây dựng ngay tại đô thị. Ở Việt Nam, nhiều nóc nhà rộng hàng trăm m2 được lợp mái tôn. Theo quan điểm nông nghiệp sinh thái, những nóc nhà có thể được sử dụng để xử lý một lượng lớn rác hữu cơ, bởi theo thống kê, 65 – 70% lượng rác thải sinh hoạt là rác hữu cơ có thể xử lý tại nhà an toàn.

Với chi phí cho tiền rau trung bình hàng tháng của mỗi hộ gia đình tại Hà Nội, TP.HCM khoảng 1,2 – 1,5 triệu đồng (theo tiêu chuẩn rau hữu cơ sạch), những người trồng tháp rau hữu cơ không những giải quyết được vấn đề môi trường, mà hoàn toàn có thể tạo ra thu nhập từ 5 – 10 triệu đồng/tháng, sau khi trừ đi chi phí.

Một lợi thế nữa của người dân khi ứng dụng mô hình này là không tốn chi phí bán hàng, nhưng lại bán được với giá bán lẻ. Khi ứng dụng nông nghiệp sinh thái vào đô thị, người dân có thể đạt được lợi ích kép: vừa bảo vệ môi trường, vừa có thêm một khoản thu nhập.

Từ 1/1/2022, Luật Môi trường mới chính thức có hiệu lực. Người dân đổ rác bị tính phí theo khối lượng (dự kiến vào đầu năm 2024 sẽ áp dụng triệt để). Tháp rau hữu cơ Eco lúc này không chỉ mang lại nguồn rau hữu cơ chuẩn mà còn là một nhà máy xử lý rác thu nhỏ, hàng tháng tiết kiệm cả trăm nghìn đồng.

Đó cũng là những thành tố cuối cùng mà nông nghiệp sinh thái mang lại – giá trị nhân văn và xã hội. Thông qua những mô hình canh tác thông minh, tiên tiến, giải quyết được vấn đề tại chỗ, nông nghiệp sinh thái tạo nhiều cơ hội việc làm hơn cho phụ nữ, đảm bảo chế độ ăn uống đa dạng và sức khỏe, trao nhiều quyền hơn cho mọi người và cộng đồng để vượt qua đói nghèo.

Ở nhiều nơi trên thế giới, thanh niên nông thôn thiếu việc làm. Nông nghiệp sinh thái dựa vào một cách thức sản xuất nông nghiệp khác, chẳng hạn canh tác rau hữu cơ bằng thùng phuy nhựa như tháp rau Eco, giúp thanh thiếu niên phát huy tính sáng tạo, cũng như giải quyết được các khó khăn về nguồn vốn đầu tư ban đầu.

Ở Ethiopia, trung bình một gia đình cần khoảng 4kg củi mỗi ngày để chế biến thức ăn, dựa trên thực tế là khoảng 80% thực phẩm con người sử dụng cần được nấu chín. Trong các cuộc khủng hoảng, khả năng tiếp cận các nguồn năng lượng để nấu ăn và sưởi ấm thường bị hạn chế nghiêm trọng.

Việc thu gom củi đốt quá mức xung quanh khu vực các trại tị nạn có thể làm giảm độ che phủ rừng và suy thoái môi trường. Từ đó dẫn đến tăng khả năng phải hứng chịu các hiểm họa tự nhiên và biến đổi khí hậu, gây thêm áp lực cho các cộng đồng tiếp nhận người tị nạn vốn dễ bị tổn thương.

Trước tình thế ấy, FAO đã đề ra chính sách và đang hỗ trợ trực tiếp hơn 50.000 hộ gia đình tị nạn ở Ethiopia thông qua các can thiệp về thu gom nhiên liệu và sử dụng năng lượng để nấu nướng, sưởi ấm và sử dụng cho mục đích sản xuất.

Bốn hành động chính được FAO áp dụng. Một, đảm bảo nguồn cung năng lượng ổn định bằng quản lý tài nguyên thiên nhiên bền vững, và sản xuất năng lượng sinh học thay thế. Hai, tăng cường cung cấp nhiên liệu gỗ bằng cách lồng ghép các chương trình trồng cây đa mục đích. Ba, thúc đẩy áp dụng các công nghệ đun nấu, sưởi ấm tiết kiệm năng lượng ở cấp hộ gia đình, có thể sản xuất và bán trong nước. Bốn, giảm bớt gánh nặng cho phụ nữ bằng cách giảm khoảng cách họ phải đi kiếm củi hàng ngày.

Theo nongnghiepmoitruong.vn

Biến phế phẩm từ quả điều thành đặc sản chay xuất khẩu

Với phương châm đưa thực phẩm chay ra thế giới, Công ty Vương Ngọc Vegan đã biến những quả điều, loại quả được xem như phế phẩm trong nông nghiệp, thành nước mắm chay hảo hạng.

Bên trong nhà máy sản xuất nước mắm từ quả điều của Công ty Vương Ngọc Vegan Ảnh: Trần Trung

Dù cây điều không phải là sản phẩm chủ lực, với sự sáng tạo, người dân Tây Ninh đã biến những thứ “không thể thành có thể”. Những chai nước mắm được chế biến từ những quả điều tưởng chừng như bỏ đi đã được người tiêu dùng đón nhận và từng bước có chỗ đứng trên thị trường.

Là một trong những đơn vị hàng đầu trong sản xuất thực phẩm chay, nhận thấy tiềm năng từ quả điều, Công ty TNHH Vương Ngọc Vegan ở thị xã Hòa Thành (tỉnh Tây Ninh) đã dành nhiều tâm huyết biến chúng thành thực phẩm chay đặc trưng. Nhờ sản xuất bài bản, khoa học, kết hợp bí quyết ủ gia truyền và công nghệ hiện đại khép kín, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, những chai nước mắm của Vương Ngọc Vegan không chỉ phục vụ thị trường trong nước mà còn xuất sang các thị trường khó tính như Mỹ và EU.

Chị Âu Vương Ngọc, Giám đốc Công ty TNHH Vương Ngọc Vegan, chia sẻ, Việt Nam là một trong những quốc gia đứng đầu thế giới về trồng và xuất khẩu nhân điều. Tuy nhiên, phần hạt điều được sử dụng chỉ là phần nhỏ của quả điều nhô ra, trong khi phần lớn quả điều chưa được tận dụng hiệu quả, thậm chí bị vứt bỏ. Đây là nguồn tài nguyên vô tận, để biến phế phẩm này thành lợi nhuận không hề đơn giản, nhưng Vương Ngọc Vegan đã làm được điều đó.

“Quả điều thuộc nhóm có sự tăng mạnh cường độ hô hấp sau khi thu hoạch. Phần thịt quả điều chứa rất nhiều axít và dễ bị kết tủa khi để ngoài môi trường. Dịch quả chín chứa 85% là nước, với hàm lượng đường chiếm 8-10%, chủ yếu là đường khử. Ngoài ra, polyphenol trong dịch quả điều gây vị đắng gắt và tannin tồn dư cũng là thách thức lớn. Tuy nhiên, bằng phương pháp riêng, chúng tôi đã thành công”, chị Ngọc chia sẻ.

Những chai nước mắm chay hảo hạng của Vương Ngọc không chỉ phục vụ thị trường trong nước mà rộng cửa xuất khẩu. Ảnh: Trần Trung.

Để tạo ra 100 lít nước mắm điều nguyên chất cần đến 300kg quả điều tươi, chín mọng được tuyển chọn kỹ càng. Quá trình sản xuất trải qua các bước xử lý sơ bộ như rửa sạch, cắt nhỏ, phối trộn với lượng muối chính xác rồi ủ lên men. Sau 4 tháng, nước mắm nhỉ được phối hợp với một số phụ gia theo công thức gia truyền để cho ra đời những chai nước mắm đạt chuẩn.

Vì quả điều chỉ thu hoạch theo mùa vụ, công ty đã ký hợp đồng bao tiêu sản phẩm quả điều tươi cho người trồng điều địa phương và các tỉnh lân cận với giá 3.000 đồng/kg. Đồng thời, công ty chuyển giao kỹ thuật ủ và hỗ trợ trang thiết bị ủ ngay tại vườn, giúp giảm chi phí sản xuất và nâng cao chất lượng sản phẩm. Công ty mua lại nước mắm thô với giá 50.000 đồng/lít, giúp người nông dân tăng thu nhập lên đến 20 triệu đồng/vụ/ha.

“Hiện dây chuyền sản xuất của công ty đạt khoảng 150.000 chai nước mắm/ngày. Ngoài nước mắm điều, công ty còn phát triển thêm các sản phẩm như nước mắm đông cô, nước mắm thơm và một số loại trái cây đặc trưng khác, đảm bảo dây chuyền hoạt động xuyên suốt và đủ công suất”, chị Ngọc chia sẻ.

Với phương châm “Ăn chay nhớ ngay Vương Ngọc”, sản phẩm của công ty hiện có mặt tại hầu hết siêu thị và cửa hàng thực phẩm trên toàn quốc. Hướng tới mục tiêu đưa sản phẩm nông nghiệp Việt Nam ra thế giới, công ty đã xuất khẩu thành công sang Mỹ và EU. Đồng thời, Vương Ngọc Vegan đang hoàn thiện thủ tục xin chứng nhận Halal để xuất khẩu sang các nước Hồi giáo và nâng công suất sản xuất lên 2 triệu lít nước mắm/năm.

Công ty từng bước bắt tay liên kết thu mua bao tiêu sản phẩm trái điều cho người dân trong và ngoài địa phương, giúp bà con làm giàu. Ảnh: Trần Trung.

Ông Nguyễn Đình Xuân, Giám đốc Sở NN-PTNT tỉnh Tây Ninh, nhấn mạnh, Việt Nam là một nước nông nghiệp, với lượng phế phẩm, phụ phẩm trong quá trình chế biến rất lớn và đa dạng. Nếu tận dụng triệt để, những phế phẩm này sẽ trở thành nguồn tài nguyên tái tạo, không chỉ bảo vệ môi trường mà còn mang lại giá trị kinh tế, xã hội to lớn.

“Trong ngành sản xuất điều hiện nay, quả điều thường được xem là phế phẩm. Không chỉ riêng Vương Ngọc Vegan, bất kỳ doanh nghiệp nào tận dụng hiệu quả quả điều chúng tôi đều hoan nghênh”, ông Nguyễn Đình Xuân khẳng định.

Theo nongnghiepmoitruong.vn/

Ủ phân hữu cơ bón cho cây trồng giúp cây khỏe, đất khỏe, môi trường sạch

Từ những phụ phẩm nông nghiệp, nhiều nông dân ở Quảng Ngãi đã ngâm ủ thành phân bón hữu cơ, giúp giảm chi phí, bảo vệ môi trường và nâng cao giá trị nông sản.

Những năm gần đây, phong trào sản xuất nông nghiệp theo hướng hữu cơ đã lan rộng tại nhiều địa phương ở Quảng Ngãi. Không chỉ thay đổi tập quán canh tác truyền thống, nông dân còn tận dụng tối đa nguồn phụ phẩm sẵn có để ngâm ủ thành dung dịch phân bón hữu cơ, góp phần tiết kiệm chi phí, nâng cao năng suất, tạo ra những sản phẩm an toàn cho người tiêu dùng.

Những năm qua, nhiều hộ dân ở Quảng Ngãi đã sử dụng các phụ phẩm từ nông nghiệp để ngâm ủ thành phân bón hữu cơ. Ảnh: L.K.
Những năm qua, nhiều hộ dân ở Quảng Ngãi đã sử dụng các phụ phẩm từ nông nghiệp để ngâm ủ thành phân bón hữu cơ. Ảnh: L.K.

Tại xã Nghĩa Hà, ông Tiêu Văn Cầm (trú thôn Sung Túc) được xem là người tiên phong trong việc trồng rau hữu cơ. Ông chủ động sử dụng phân chuồng ủ hoai kết hợp với dung dịch hữu cơ tự chế để bón cho rau thay vì dùng phân hóa học. “Loại dung dịch này dễ làm, bổ sung dinh dưỡng rất tốt mà chi phí cũng rẻ nhiều lần so với phân bón hóa học. 1 sào rau chỉ tốn khoảng 500.000 đồng nhưng có thể tưới được 3 lứa”, ông Cầm chia sẻ.

Công thức ủ phân mà ông Cầm áp dụng gồm 1 lít mật mía, thân rễ chuối cắt lát, 3kg bã đậu nành, 3kg bã lạc, 6 hũ sữa chua và 10 lít nước. Sau 10 ngày ngâm ủ, dung dịch chuyển màu vàng cánh gián, có mùi thơm men rượu, có thể dùng để tưới hoặc phun định kỳ mỗi tuần một lần cho rau. Nhờ cách làm này, vườn rau của ông luôn xanh tốt, cho sản lượng ổn định, giá bán từ 10.000 – 15.000 đồng/kg, đặc biệt luôn có đầu ra ổn định. Người tiêu dùng tin tưởng bởi rau sạch, không hóa chất. “Tôi chỉ áp dụng kinh nghiệm canh tác truyền thống rồi cải tiến để đạt hiệu quả cao hơn. Toàn bộ quy trình đều không dùng phân hóa học”, ông nói.

Người dân sử dụng dung dịch hữu cơ sau khi ngâm ủ hòa pha với nước để tưới cho cây trồng. Ảnh: L.K.
Người dân sử dụng dung dịch hữu cơ sau khi ngâm ủ hòa pha với nước để tưới cho cây trồng. Ảnh: L.K.

Không chỉ ở Nghĩa Hà, mô hình này còn lan rộng đến nhiều nơi khác trong tỉnh. Tại xã Ya Ly, chị Lê Hồng Thanh đã tận dụng cá tạp đánh bắt được ở lòng hồ thủy điện để chế biến thành phân cá hữu cơ phục vụ cho 2 ha cây ăn quả của gia đình. Mỗi thùng 200 lít phân cá được ủ từ 100kg cá tạp, 10kg mật mía, 2kg men vi sinh và nước, sau 1 – 2 tháng có thể sử dụng. Chị pha loãng dung dịch với nước để tưới hoặc phun lên lá, giúp cây phát triển mạnh, ra quả phát triển đều, hạn chế sâu bệnh.

“1 lít phân cá tôi pha với hơn 60 lít nước, có thể phun qua lá hoặc tưới trực tiếp vào gốc cây. Nhờ chuyển đổi từ phân hóa học sang phân cá hữu cơ, tôi tiết kiệm gần 20 triệu đồng tiền phân bón mỗi vụ. Sản lượng cây ăn quả cũng tăng từ 5 – 6 tấn/năm lên 7 – 8 tấn/năm. Trước đây dùng phân hóa học chi phí cao mà cây dễ bị sâu bệnh. Từ khi dùng phân cá, cây khỏe hơn, quả to, chất lượng tốt. Người mua cũng yên tâm hơn vì đây là sản phẩm sạch. Với giá bán các loại rau quả ổn định, mỗi năm gia đình tôi lãi hàng trăm triệu đồng”, chị Thanh chia sẻ.

Chi phí đầu tư phân bón và thuốc bảo vệ thực vật luôn chiếm tỷ trọng lớn trong sản xuất nông nghiệp. Việc người dân mạnh dạn áp dụng các phương pháp ngâm ủ phân hữu cơ từ phụ phẩm nông nghiệp không chỉ giảm gánh nặng tài chính mà còn góp phần bảo vệ môi trường đất, nước, giảm thiểu ô nhiễm.

Sử dụng phân hữu cơ ngâm ủ không chỉ tiết kiệm chi phí mà còn giúp cây trồng khỏe, ít sâu bệnh và bảo vệ môi trường. Ảnh: L.K.
Sử dụng phân hữu cơ ngâm ủ không chỉ tiết kiệm chi phí mà còn giúp cây trồng khỏe, ít sâu bệnh và bảo vệ môi trường. Ảnh: L.K.

Ông Nguyễn Hoài Tâm, Chi cục trưởng Chi cục Trồng trọt, Bảo vệ thực vật và Quản lý chất lượng tỉnh Quảng Ngãi cho rằng, việc người dân chủ động ngâm ủ phân bón hữu cơ từ phụ phẩm nông nghiệp đã mang lại nhiều hiệu quả thiết thực cả về kinh tế lẫn môi trường. Nông dân tiết kiệm đáng kể chi phí sản xuất nhờ tận dụng các nguyên liệu sẵn có tại địa phương như cá tạp, mật mía, rơm rạ, thân chuối, xác bã đậu nành… để tạo ra phân bón hữu cơ giàu dinh dưỡng.

Điều này không chỉ giúp cây trồng phát triển khỏe mạnh, tăng năng suất, chất lượng nông sản mà còn góp phần cải tạo độ màu mỡ của đất, cân bằng hệ sinh thái đồng ruộng, hạn chế ô nhiễm môi trường do lạm dụng hóa chất. Ông Tâm nhấn mạnh, mô hình này phù hợp với điều kiện sản xuất của nhiều địa phương trong tỉnh và đang được ngành nông nghiệp khuyến khích nhân rộng.

Theo nongsanviet.nongnghiepmoitruong.vn

Tận dụng rác thải thực phẩm thành thức ăn chăn nuôi xanh

Rác thải thực phẩm là nguồn phát thải khí nhà kính lớn. Song, Nhật Bản và Trung Quốc đã tận dụng để sản xuất thức ăn chăn nuôi, góp phần giảm ô nhiễm khí hậu.

Khoảng 1/3 lượng lương thực thực phẩm (LTTP) sản xuất trên toàn thế giới bị thất thoát hoặc lãng phí, từ trang trại, nhà máy chế biến tới cửa hàng, nhà hàng và gia đình. Núi rác thực phẩm đang gia tăng này là nguồn phát thải khí metan lớn, chiếm 8-10% tổng lượng phát thải khí nhà kính toàn cầu. 

Chính phủ nhiều nước khuyến khích thu gom, phân phối LTTP dư thừa cho người cần. Tuy nhiên, ở Mỹ, chỉ 2% lượng LTTP dư thừa được chia sẻ lại, trong khi 14,7 triệu tấn thực phẩm phù hợp làm thức ăn chăn nuôi vẫn bị chôn lấp mỗi năm. Đây là sự lãng phí lớn, bỏ qua cơ hội giảm tải bãi rác và giảm phát thải metan.

Thức ăn gia súc chế biến từ rác thải thực phẩm. Ảnh: Jill.
Thức ăn gia súc chế biến từ rác thải thực phẩm. Ảnh: Jill.

Nhật Bản đã đi đầu trong việc tận dụng chất thải LTTP làm thức ăn chăn nuôi từ năm 2009, với chính sách nghiêm ngặt đảm bảo an toàn. Trung Quốc cũng áp dụng đổi mới này nhằm giảm nhập khẩu ngũ cốc, cắt giảm ô nhiễm và khí thải. Trong khi đó, Mỹ vẫn hạn chế sử dụng rác thực phẩm cho chăn nuôi do lo ngại bệnh dịch.

Các chuyên gia tin tưởng, nếu xử lý đúng, chất thải LTTP có thể trở thành nguồn thức ăn an toàn, giàu dinh dưỡng, góp phần đảm bảo an ninh lương thực và bảo vệ môi trường.

Tại Nhật Bản, năm 2020, các nhà sản xuất đã lên men hoặc sấy khô 300.000 tấn rác thực phẩm thành thức ăn chăn nuôi, cung cấp 12% tổng nhu cầu thức ăn gia súc trong nước. Chính phủ Nhật còn xây dựng hệ thống chứng nhận và hỗ trợ nghiên cứu, phát triển phương pháp sản xuất “eco-feed”, nghĩa là thức ăn chăn nuôi hữu cơ.

Trung Quốc vốn có truyền thống tận dụng rác LTTP cho chăn nuôi, nhưng sau dịch tả lợn Châu Phi năm 2018, việc này bị hạn chế để kiểm soát dịch bệnh. Hiện nay, Trung Quốc đang thí điểm 20 chương trình phục hồi sử dụng chất thải LTTP làm thức ăn chăn nuôi ở nhiều thành phố.

Ở Mỹ, mỗi người vứt bỏ trung bình 250kg thực phẩm/năm, song chỉ 10% được tái chế thành thức ăn gia súc. Rào cản về pháp luật, chi phí thu gom, xử lý khiến nỗ lực này gặp nhiều khó khăn.

Các nhà khoa học đề xuất những giải pháp mới như xử lý nhiệt rác thực phẩm, hoặc dùng côn trùng (ruồi lính đen) tiêu hóa thực phẩm thừa rồi chế biến thành bột protein cho gia súc, gia cầm. FDA Mỹ đã công nhận bột ruồi lính đen là thành phần phù hợp cho thức ăn chăn nuôi. Trung Quốc cũng thử nghiệm phương pháp nuôi gián ăn rác thực phẩm làm thức ăn cho lợn.

Các mô hình từ Nhật Bản và Trung Quốc cho thấy, nếu được quản lý, đầu tư bài bản, rác thực phẩm hoàn toàn có thể trở thành nguồn dinh dưỡng bền vững, góp phần giảm chi phí, giảm phát thải khí nhà kính, tạo lợi ích kinh tế và môi trường cho nhiều quốc gia.

Theo nongnghiepmoitruong.vn

Biến phụ phẩm nông nghiệp thành nguồn thức ăn chăn nuôi chính

Thay đổi thói quen canh tác, nhiều nông dân ở huyện Phú Thiện (tỉnh Gia Lai) đã biến những phế phẩm nông nghiệp sau thu hoạch thành thức ăn chăn nuôi cho hiệu quả cao.

Anh Nguyễn Văn Trực cho gà ăn trùn quế và sâu canxi. Ảnh: Đăng Lâm. 
Anh Nguyễn Văn Trực cho gà ăn trùn quế và sâu canxi. Ảnh: Đăng Lâm. 

Thay đổi thói quen

Mô hình vườn – ao – chuồng rộng 1ha của gia đình ông Nguyễn Văn Cường (ở thôn Thanh Trang, xã Ia Peng, Phú Thiện) gồm nuôi bò, gà, vịt, ao thả cá và trồng cỏ. Ngày trước, lượng phân bón từ chăn nuôi bò, gà, vịt ông đều dùng bón cho hơn 2 sào cỏ, còn lại ông thả trực tiếp xuống ao cho cá ăn.

Đầu năm 2023, sau khi tham gia lớp tập huấn kỹ thuật trong sản xuất nông nghiệp kết hợp chăn nuôi, gia đình ông đã thay đổi cách làm. Đàn bò, gà của ông không chăn thả rông nữa mà thay vào đó, ông đã xây dựng chuồng trại để nuôi nhốt.

Từ đó, lượng phân thải ra từ chăn nuôi nhiều hơn trông thấy so với trước đây. Số phân thu được từ chăn nuôi, ông không bón hoặc thả trực tiếp xuống vườn cỏ, ao cá nữa mà thay vào đó, ông dùng để nuôi trùn quế.

“Nuôi trùn quế vừa hạn chế ô nhiễm môi trường từ chất thải chăn nuôi, vừa tạo ra nguồn thức ăn chất lượng cho vật nuôi”, ông Nguyễn Văn Cường cho biết.

Với gia đình ông Nguyễn Văn Trực ở tổ dân phố 8, thị trấn Phú Thiện, việc thay đổi thói quen trong sản xuất nông nghiệp cũng bắt đầu từ những lớp tập huấn như trên. Gia đình ông Trực có 1 sào đất trồng các loại rau (1 sào Tây Nguyên = 1.000m2).

Trước đây, cứ sau mỗi lần thu hoạch, có đến 2- 3 tạ rau già hoặc hư hỏng, ông làm thức ăn cho đàn gà 50 con mỗi lứa nhưng vẫn không hết, đành phải bỏ đi. Đầu năm 2024, sau khi tham gia các buổi tập huấn nuôi sâu canxi và nuôi trùn quế, ông bắt tay vào việc xây chuồng trại với diện tích 40 m2 được chia làm 6 ô. Lượng rau thừa nói trên ông dùng làm nguyên liệu để nuôi sâu canxi và nuôi trùn quế.

Còn gia đình bà Lê Thị Tuyết (thôn Nam Hà, xã Ia Ke) có thói quen là sau khi thu hoạch lúa, rơm ra được đốt bỏ ngay tại ruộng. Tuy nhiên hai năm trở lại đây, sau khi tham gia lớp tập huấn do Hội Nông dân huyện tổ chức thì thay vì đốt ngay tại ruộng, lượng rơm rạ sau thu hoạch lúa được bà tận dụng làm đệm lót sinh học trong chăn nuôi gà.

“Đốt rơm rạ không tái tạo được nhiều cho độ phì nhiêu trong đất, ngược lại còn gây lãng phí nguồn phụ phẩm này. Lượng rơm rạ sau thu hoạch lúa, tôi dùng ủ với men sinh học EM để làm đệm lót sinh học cho đàn gà. Ngoài ra, tôi còn tận dụng lượng rau già cỗi trong vườn để nuôi sâu canxi dùng làm thức ăn cho gà”, bà Tuyết cho biết.

Hiệu quả trông thấy

Từ khi thay đổi cách làm, mô hình vườn – ao – chuồng kết hợp nuôi trùn quế của gia đình ông Nguyên Văn Cường (thôn Thanh Trang, xã Ia Peng) đã cho hiệu quả khả quan. Ông Cường chia sẻ, với diện tích chuồng nuôi trùn quế hơn 30m2, mỗi đợt nuôi thu được trên 200kg trùn quế, mỗi năm thu 4- 5 đợt được khoảng 1 tấn phân trùn quế, đảm bảo lượng thức ăn trong chăn nuôi.

Theo đó, đã giảm đáng kể chi phí trong việc mua thức ăn chăn nuôi, đồng thời gà, vịt và cá cho chất lượng thịt cao hơn trước rất nhiều, môi trường lại không bị ảnh hưởng do lượng phân thải ra từ chăn nuôi ga súc…

Còn với mô hình nuôi sâu canxi và nuôi trùn quế của gia đình ông Nguyễn Văn Trực (tổ dân phố 8, thị trấn Phú Thiện), hiệu quả mang lại cũng hết sức thiết thực. Ông Trực cho biết, cứ sau mỗi đợt thu hoạch, ông chỉ sử dụng một ít rau bỏ đi cho gà ăn để tạo chất xơ, phần còn lại ông dùng làm thức ăn cho sâu canxi và trùn quế, sau đó ông thu thu hoạch sản phẩm là trùn quế và sâu canxi làm thức ăn cho gà.

Đàn gà của gia đình bà Tuyết được nuôi trên nền đệm lót sinh học. Ảnh: Đăng Lâm.
Đàn gà của gia đình bà Tuyết được nuôi trên nền đệm lót sinh học. Ảnh: Đăng Lâm.

“Với hình thức này, sau môi đợt nuôi, gia đình tôi đã tiết kiệm được khoảng một nửa chi phí trong việc mua thức ăn cho bầy gà. Không những vậy mà gà ăn sâu canxi rất nhanh lớn, chất lượng thịt gà cũng thơm ngon hơn nhiều. Từ khi nuôi gà bằng hình thức này, tôi không còn phải lo đầu ra bởi thương lái tìm đến tận nhà để mua, thậm chí nhiều người còn đặt cọc tiền trước”, ông Trực cho biết.

Từ khi không đốt tại ruộng sau thu hoạch, bà Lê Thị Tuyết (thôn Nam Hà, xã Ia Ke) sử dụng rơm rạ làm đệm lót sinh học cho gà. Đàn gà của gia đình bà… vui lên trông thấy. Bà Tuyết cho biết, mỗi năm, gia đình bà nuôi 2 lứa gà, mỗi lứa 50 con Từ khi có đệm lót sinh học được làm từ rơm rạ, chuồng gà không còn mùi hôi thối như trước đây, theo đó bà Tuyết cũng không mất nhiều thời gian cho việc làm vệ sinh chuồng trại. Đặc biệt là từ khi sử dụng đệm lót sinh học, đàn gà nhà bà ít bị dịch bệnh hơn trước, ngược lại còn phát triển khỏe hơn.

“Thời gian tới, gia đình tôi sẽ mở rộng quy mô chăn nuôi, xây thêm chuồng trại. Lượng rơm rạ sau khi thu hoạch lúa, tôi sẽ tận dụng tối đa để ủ với men sinh học, làm đệm lót sinh học cho đàn gà. Bên cạnh đó, tôi cũng sẽ tăng thêm quy mô nuôi sâu canxi để làm thức ăn cho gà, từ đó nhân rộng đàn gà để tăng thu nhập cho gia đình”, bà Tuyết chia sẻ.

Ở huyện Phú Thiện, ngoài những mô hình như gia đình ông Cường, ông Trực hay bà Tuyết, còn có không ít hộ nông dân đã thay đổi cách làm, tận dụng các phụ phẩm nông nghiệp để phục vụ chăn nuôi hoặc xử lý chất thải. Các mô hình nuôi trùn quế, nuôi sâu canxi làm thức ăn chăn nuôi đã cho thấy hiệu quả rõ rệt. Từ đó, ngoài tiết kiệm chi phí trong chăn nuôi, tăng thu nhập cho gia đình, còn góp phần tích cực trong việc bảo vệ môi trường.

Theo nongnghiepmoitruong.vn

Để phụ phẩm nông nghiệp không là “đồ bỏ đi”

Quá trình sản xuất nông nghiệp tạo ra một lượng phụ phẩm lớn. Nguồn tài nguyên này nếu được khai thác, sử dụng tốt sẽ không chỉ đem lại hiệu quả kinh tế, mà còn góp phần bảo vệ môi trường.

156 triệu tấn phụ phẩm nông nghiệp mỗi năm

Tại hội thảo “Hiện trạng phụ phẩm nông, lâm, thủy sản và đề xuất cách xử lý” do Bộ NN-PTNT tổ chức ngày 10/9/2023, tiến sĩ Tống Xuân Chinh- Phó Cục trưởng Cục chan nuôi (Bộ NN-PTNT) cho biết, tổng phụ phẩm trong quá trình sản xuất nông, lâm, thủy sản và chăn nuôi của nước ta thải ra trong năm 2020 ở mức khoảng 156,8 triệu tấn. Trong đó, 2 lĩnh vực có phụ phẩm lớn là trồng trọt (88,9 triệu tấn) và chăn nuôi (61,4 triệu tấn chất thải). Phụ phẩm trồng trọt thải ra chủ yếu là trong quá trình thu hoạch, như rơm, rạ từ sản xuất lúa, vỏ trấu, cám gạo khi chế biến gạo.

Lĩnh vực lâm nghiệp mỗi năm Việt Nam sản xuất khoảng 30 triệu m3 gỗ tròn, thải ra 3,4 triệu tấn vỏ, cành, lá và quá trình chế biến tạo ra 2,4 triệu tấn mùn cưa.

Về thủy sản, năm 2022 Việt Nam có tổng sản lượng 8,4 triệu tấn, trong đó khai thác là 3,85 triệu tấn, nuôi trồng 4,56 triệu tấn và nhập thêm 1 triệu tấn nguyên liệu về chế biến. Riêng phụ phẩm trong chế biến thủy sản mỗi năm khoảng 1 triệu tấn.

NNTH là giải pháp tối ưu

TS Tống Xuân Chinh cho rằng, cần có thể chế ngưỡng hóa tỷ lệ sử dụng phân vô cơ trong sản xuất nông nghiệp, còn lại là phải sử dụng dụng phân hữu cơ. Từ đó, hướng tới một nền nông nghiệp tăng trưởng xanh, NNHC, NNTH không chất thải. “Theo đánh giá, tiềm năng phụ phẩm nông nghiệp của Việt Nam có thể mang lại giá trị lên đến 4-5 tỷ USD/năm, tuy nhiên năm 2020 chỉ đạt 275 triệu USD. Vì vậy, cần có các chính sách thu hút các doanh nghiệp vào thu gom, xử lý, chế chế biến các phụ phẩm nông nghiệp”, TS Tống Xuân Chinh đề xuất giải pháp.

GS.TS Nguyễn Quang Thạch – Viện trưởng Viện sinh học (Học Viện Nông nghiệp VN) cho rằng, chế biến các phụ phẩm nông nghiệp nếu chỉ dựa vào cách làm truyền thống, như ủ phân hữu cơ thì sẽ rất lâu mà cần ứng dụng công nghệ vào chế biến, nhất là công nghệ men vi sinh. “Với khối lượng 156 triệu tấn phụ phẩm nông nghiệp, sẽ là nguồn nguyên liệu cực kỳ quý. Nếu được chế biến, đưa vào sử dụng sẽ tạo ra một nền NNTH. Đầu ra của quy trình sản xuất này sẽ là đầu vào của quy trình sản xuất khác, cho hiệu quả kinh tế cao hơn”, GS.TS Nguyễn Quang Thạch đánh giá.

Bà Nguyễn Thị Thanh Thủy – Vụ trưởng Vụ khoa học, Công nghệ và Môi trường (Bộ NN&PTNT) nhấn mạnh: Ở góc độ nền kinh tế NNTH gắn với tăng trưởng xanh, phụ phẩm trong nông, lâm, thuỷ sản phải được xem là nguồn tài nguyên tái tạo chứ không phải là chất thải. Nguồn nguyên liệu này cần được xem là đầu vào quan trọng, kéo dài chuỗi giá trị gia tăng trong nông nghiệp.

Theo hoinongnghieptuanhoanvietnam.org.vn

Môi trường sạch, nông nghiệp xanh nhờ tận dụng rác hữu cơ

Rác hữu cơ và phế phụ phẩm nông nghiệp được người nông dân ở TP Huế tận dụng để sử dụng hiệu quả, góp phần bảo vệ môi trường, thúc đẩy nông nghiệp hữu cơ.

Tại HTX Nông nghiệp Dịch vụ Hương Long Saemaul (phường Kim Long, TP Huế), các thành viên đã thu gom rác hữu cơ từ chợ Đông Ba để ủ phân hữu cơ bằng chế phẩm sinh học. Nhờ quy trình khép kín, tuần hoàn và thân thiện với môi trường, các sản phẩm nông nghiệp của HTX giờ đây không chỉ an toàn mà còn góp phần lan tỏa mô hình nông nghiệp xanh, bền vững.

HTX Nông nghiệp Dịch vụ Hương Long Saemaul thu gom rác thải hữu cơ từ chợ Đông Ba đưa về ủ với chế phẩm sinh học thành phân hữu cơ bón cho cây trồng. Ảnh: Văn Dinh.
HTX Nông nghiệp Dịch vụ Hương Long Saemaul thu gom rác thải hữu cơ từ chợ Đông Ba đưa về ủ với chế phẩm sinh học thành phân hữu cơ bón cho cây trồng. Ảnh: Văn Dinh.

Chị Mai Tịnh Thùy, Giám đốc HTX Nông nghiệp Dịch vụ Hương Long Saemaul cho biết, HTX chủ yếu canh tác các loại rau, củ theo VietGAP, hướng hữu cơ. Trung bình mỗi tháng HTX tổ chức 4 chuyến thu gom rác thải hữu cơ từ chợ Đông Ba đưa về ủ với chế phẩm sinh học thành phân hữu cơ bón cho cây trồng. Để đảm bảo chất lượng nông sản, các thành viên HTX phải ký cam kết không sử dụng các loại thuốc trừ sâu, phân bón hóa học, thường xuyên giám sát, kiểm tra quy trình sản xuất.

“Nhờ đó, diện tích rau của HTX đã được cấp chứng nhận sản xuất an toàn, tạo điều kiện thuận lợi để sản phẩm đến tay người tiêu dùng với niềm tin cao hơn. Thời gian tới, cùng với mở rộng diện tích trồng rau, HTX sẽ đầu tư phát triển các mô hình chăn nuôi an toàn. Mục tiêu của HTX là xây dựng hệ sinh thái nông nghiệp khép kín, nơi các nguồn tài nguyên được tái sử dụng hiệu quả, góp phần giảm thiểu ô nhiễm, giảm chi phí, nâng cao giá trị sản phẩm, hướng tới phát triển nông nghiệp bền vững toàn diện”, chị Thùy chia sẻ.

Những năm gần đây, phong trào tận dụng phế phụ phẩm nông nghiệp, rác thải hữu cơ để sản xuất phân bón hữu cơ phục vụ trồng trọt cũng ngày càng lan tỏa tại nhiều địa phương ở TP Huế.

Tại xã Chân Mây – Lăng Cô, ông Trương Viết Hiệp (thôn Thủy Yên Thượng) là một điển hình khi sử dụng chế phẩm Emuniv, Trichodecma để sản xuất phân hữu cơ. Gia đình ông tận dụng bã tràm, trấu, rơm rạ, mùn cưa, cây phân xanh, phân chuồng để ủ phân hữu cơ cho cây trồng rất hiệu quả, từ đó bớt được chi phí mua các loại phân bên ngoài.

“Trước đây gia đình không tận dụng được phế phụ phẩm nông nghiệp hoặc đổ đống ngoài vườn. Hiện nay, phế phẩm nông nghiệp, bã tràm đã chưng cất được sản xuất thành phân hữu cơ và đã bón ngược lại cho cây tràm, lúa, cây ăn quả và rau, giúp cây trồng phát triển rất tốt”, ông Hiệp nói.

Nông dân Huế dự trữ rơm phục vụ chăn nuôi. Ảnh: Văn Dinh.
Nông dân Huế dự trữ rơm phục vụ chăn nuôi. Ảnh: Văn Dinh.

Theo ông Nguyễn Đình Đức – Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường TP Huế, việc người dân trên địa bàn tận dụng phế phụ phẩm nông nghiệp để tái sử dụng trong sản xuất đang mang lại nhiều lợi ích thiết thực, giúp giảm chi phí sản xuất, cải tạo đất canh tác, hướng tới nền nông nghiệp tuần hoàn, phát triển bền vững.

“Với mục tiêu tăng trưởng xanh và bền vững, việc tái sử dụng phế phụ phẩm nông nghiệp được xem là hướng đi cần thiết và lâu dài. Ngành nông nghiệp Thành phố sẽ phối hợp với các đơn vị chuyên môn tổ chức tập huấn, hỗ trợ kỹ thuật, kết nối đầu ra cho sản phẩm nhằm khuyến khích nông dân tiếp tục áp dụng mô hình nông nghiệp thân thiện với môi trường”, ông Đức nhấn mạnh.

Theo bà Hoàng Ngọc Tường Vân, Quản lý Dự án “Huế – Đô thị giảm nhựa ở miền Trung Việt Nam” (WWF – Việt Nam), Dự án đang phối hợp với nhiều hộ dân, HTX trên địa bàn TP Huế hình thành một số mô hình tận dụng phế phụ phẩm nông nghiệp để “tái sinh” thành sản phẩm có giá trị. Đây không chỉ là cách giảm rác thải mà còn là con đường xây dựng kinh tế tuần hoàn, nông nghiệp sạch và lối sống xanh bền vững cho cộng đồng.

Theo Báo Nông Nghiệp và Môi Trường

‘Phế phẩm’ vẫn hái ra tiền

Xơ mướp khô, trái lêkima đến chùm ngây mọc ven rào là những nguyên liệu một thời bị xem là “phế phẩm”, nhưng qua bàn tay sáng tạo của doanh nghiệp, được “lột xác” thành sản phẩm gia dụng, mỹ phẩm, thực phẩm có hàm lượng giá trị gia tăng cao.

Trái lêkima (hay còn gọi là quả trứng gà), loại quả quen thuộc ở Đồng bằng sông Cửu Long lâu nay gần như đứng ngoài chuỗi giá trị. Nhìn thấy tiềm năng bị bỏ ngỏ, chị Đỗ Thị Xuân Diệu ở TP Cần Thơ đã “tái sinh” loại trái cây này thành lêkima sấy dẻo và bột lêkima, biến một sản vật dân dã thành sản phẩm có giá trị gia tăng cao.

Sản phẩm từ trái lêkima mang thương hiệu “DiKa” hiện không chỉ tiêu thụ tốt trên các kênh thương mại điện tử, sản phẩm còn được nhiều kiều bào lựa chọn làm quà mỗi khi về nước.

Từ một loại quả ít được chú ý, lêkima đang dần có chỗ đứng mới trên thị trường, mở ra khả năng đưa đặc sản địa phương bước ra ngoài biên giới, không phải bằng sản lượng, mà bằng giá trị và câu chuyện phía sau sản phẩm.

Nhưng, điều chị Diệu tâm đắc nhất là tạo đầu ra cho lêkima mà bà con nông dân trồng quanh vườn. Giá thu mua lêkima tươi dao động từ 7.000 – 8.000 đồng/kg trong mùa rộ và có thể lên hơn 10.000 đồng/kg vào thời điểm khan hàng.

Theo chị Diệu, đây là loại cây mang lại hiệu quả kinh tế ổn định, đặc biệt với những hộ ít nhân công, bởi chi phí chăm sóc thấp hơn nhiều so với các loại cây ăn trái khác như sầu riêng.

Vợ chồng chị Đỗ Thị Xuân Diệu (TP Cần Thơ) đã “tái sinh” thành công trái lêkima. Ảnh: Quốc Hải

Làm giàu từ tài nguyên bản địa bị ‘lãng quên’

Năm nay cũng là năm đầu tiên, Công ty THHH Quốc tế DiKa Happy của chị Diệu được công nhận danh hiệu “Hàng Việt Nam chất lượng cao”. Đây cũng là cơ sở để chị Diệu tự tin đầu tư và phát triển sản phẩm từ trái lêkima ra thị trường mạnh mẽ hơn nữa.

“Sản phẩm hiện đã có mặt tại một số cửa hàng đặc sản ở Hà Nội, Thái Nguyên và được ưa chuộng làm quà biếu, đặc biệt trong dịp Tết. Nhiều khách hàng đánh giá lêkima sấy dẻo phù hợp khi dùng cùng trà, trong khi kiều bào cũng lựa chọn sản phẩm như một món quà mang đậm dấu ấn quê hương”, chị Diệu tự hào.

Cùng xuất hiện tại các gian hàng trong buổi lễ công bố Hàng Việt Nam chất lượng cao 2026 tổ chức mới đây, có hàng loạt các doanh nghiệp startup với các gia dụng, mỹ phẩm, thực phẩm… được phát triển từ nguồn tài nguyên bản địa.

Tại gian hàng của Làng Mướp, nhiều sản phẩm như giày dép, túi, búp bê… với vẻ đẹp tinh tế, thu hút người mua. Từ phần xơ còn lại của trái mướp già – thứ từng bị xem là phế phẩm – một chuỗi giá trị mới đang được hình thành. Không dừng ở miếng rửa chén quen thuộc, xơ mướp được “nâng cấp” thành bông tắm, cây chà lưng, đồ chơi thú cưng, thậm chí trở thành hoa khô, quà lưu niệm, lồng đèn hay chụp đèn ngủ với thiết kế ngày càng tinh tế, bắt mắt.

Đằng sau sự “lột xác” đó là quy trình xử lý bài bản: nguyên liệu sau thu mua được làm sạch, tách vỏ, phơi khô, xử lý ẩm mốc nghiêm ngặt trước khi đưa vào cán, dập khuôn theo từng mẫu thiết kế.

Giá trị của xơ mướp vì thế không còn nằm ở phần thô sơ ban đầu, mà ở khả năng sáng tạo và chế biến. Khi một phụ phẩm nông nghiệp được khai thác đến tận cùng, bài toán không chỉ là tăng giá trị sản phẩm, mà còn là giảm lãng phí và mở ra hướng đi bền vững cho sản xuất.

Không dừng lại ở lĩnh vực thực phẩm, nhiều nguyên liệu quen thuộc đang được “mở khóa” sang không gian mới: chăm sóc sức khỏe và làm đẹp.

Các sản phẩm của Làng Mướp. Ảnh: Quốc Hải

Tại Tây Ninh, anh Phạm Ngọc Anh Tuấn đã nhìn thấy giá trị khác biệt từ chùm ngây, loại cây mọc ven rào vốn bị xem là bình thường. Từ nguyên liệu này, anh phát triển một hệ sản phẩm đa dạng, từ trà, bánh, nước giải nhiệt đến chiết xuất tinh dầu để sản xuất mỹ phẩm như son dưỡng, sản phẩm chăm sóc da.

Điểm chung của các sản phẩm là nguồn gốc tự nhiên, an toàn và phù hợp xu hướng tiêu dùng xanh. Nhờ đó, chúng nhanh chóng được thị trường đón nhận, đặc biệt là nhóm khách hàng nữ – những người ngày càng ưu tiên các sản phẩm “lành tính” và minh bạch về thành phần.

“Từ một loại cây dân dã, chùm ngây đang được tái định vị như một nguyên liệu đa giá trị, cho thấy dư địa lớn của nông sản Việt khi được đặt trong đúng hệ sinh thái sáng tạo”, anh Tuấn chia sẻ.

Ông Nguyễn Lâm Viên, Tổng giám đốc Công ty CP Vinamit, nhìn nhận lợi thế lớn nhất của Việt Nam nằm ở nguồn tài nguyên bản địa phong phú, nhưng chính sự dồi dào đó lại vượt quá khả năng khai thác của từng doanh nghiệp đơn lẻ. Theo ông, nông nghiệp không thể phát triển theo kiểu “mạnh ai nấy làm”, mà cần một hệ sinh thái doanh nghiệp cùng tham gia, cùng đầu tư và cùng nâng cấp chuỗi giá trị.

“Khi có đủ lực lượng đồng hành, nông sản Việt mới có thể thoát khỏi vòng lặp xuất thô, tiến tới chế biến sâu và tạo ra những sản phẩm có giá trị gia tăng cao”, ông nói và nhấn mạnh, đó cũng là con đường để nông sản Việt không chỉ phục vụ thị trường nội địa, mà còn đủ sức cạnh tranh và định vị trên thị trường quốc tế bằng chất lượng, câu chuyện và giá trị bền vững.

Các đại biểu thưởng thức sản phẩm trà thảo mộc tại gian hàng của Công ty Én Việt PCL. Ảnh: Trần Quỳnh

“Đừng chỉ làm ra sản phẩm tốt, hãy làm ra niềm tin”

Câu chuyện về các doanh nghiệp startup và xa hơn là các doanh nghiệp Việt đang đầu tư và nâng cấp chuỗi giá trị, để đứng vững trong bối cảnh khó khăn hiện nay là những bài học đáng tham khảo. Tuy nhiên, theo ông Lê Minh Hoan, Phó chủ tịch Quốc hội, hành trình của hàng Việt không chỉ là câu chuyện sản xuất, mà trước hết là hành trình khôi phục và bồi đắp niềm tin.

“Đã có lúc niềm tin của người tiêu dùng rất mong manh, nhưng chính cộng đồng doanh nghiệp đã góp phần hàn gắn lại điều đó. Cuối cùng, khi mọi thứ có thể mất đi, thứ còn lại chính là thương hiệu”, ông nhấn mạnh.

Trong bối cảnh tiêu dùng thay đổi nhanh chóng, ông Hoan chỉ ra rằng người mua không còn quyết định đơn thuần dựa trên giá hay chất lượng, mà ngày càng đặt trọng tâm vào niềm tin và nhận thức. Điều này cũng đồng nghĩa, tăng trưởng nếu không đi kèm tính bền vững sẽ sớm bào mòn nền tảng phát triển của doanh nghiệp.

Nhìn lại 30 năm của chương trình “Hàng Việt Nam chất lượng cao”, theo ông Hoan, doanh nghiệp Việt đã từng bước gây dựng lại niềm tin trong nước, đưa hàng Việt từ vị thế bị hoài nghi trở thành lựa chọn quen thuộc. Không ít thương hiệu đã vươn ra quốc tế, mang theo không chỉ sản phẩm mà còn cả câu chuyện về giá trị bản địa: từ hạt gạo, con tôm đến ly cà phê.

Tuy nhiên, theo ông Hoan, mục tiêu trong giai đoạn tới của các doanh nghiệp Việt không dừng lại ở việc giữ niềm tin trong nước, mà phải nâng lên một nấc thang mới: xây dựng niềm tin của thị trường toàn cầu đối với hàng Việt.

“Doanh nghiệp không chỉ tạo ra sản phẩm tốt, mà phải kiến tạo niềm tin như một tài sản cốt lõi, bền vững”, ông Hoan nói.

Xa hơn, ông Hoan hình dung một trạng thái mà sản phẩm Việt khi xuất hiện trên thị trường quốc tế sẽ được đón nhận bằng “niềm tin mặc định” từ người tiêu dùng. Khi đó, thành công không chỉ thuộc về từng doanh nghiệp riêng lẻ, mà là sự phản chiếu vị thế và uy tín của cả nền kinh tế Việt Nam.

Theo The Leader

Lãng phí thực phẩm và gánh nặng môi trường: Câu chuyện từ những bữa ăn

Giữa lòng Hà Nội phồn hoa, những bàn ăn tràn ngập món ngon đã trở thành biểu tượng của sự sung túc. Thế nhưng, sau mỗi bữa tiệc xa hoa, mỗi bữa cơm thừa là những túi rác nặng trĩu, không đơn thuần chỉ là thức ăn bỏ đi mà còn âm thầm trở thành gánh nặng môi trường khổng lồ mà ít ai nhìn thấy.

Lãng phí thực phẩm không chỉ là câu chuyện của bữa ăn, mà còn là một lát cắt phản chiếu lối sống, hệ thống tiêu dùng và cách con người
đang đối xử với tài nguyên Trái đất.

Khi “miếng ngon” hóa “gánh nặng môi trường”

Buổi tối cuối tuần, nhà hàng buffet trên đường Nguyễn Hoàng (quận Nam Từ Liêm, Hà Nội) đông nghẹt người. Không khí bên trong mát lạnh, sáng rực dưới ánh đèn vàng. Dòng người nối nhau đi dọc quầy thức ăn, đĩa trên tay luôn đầy ắp, từ sushi, tôm hùm, cá hồi, các loại thịt hảo hạng, salad, đến bánh ngọt… Mỗi người chọn đủ món, như thể chỉ sợ bỏ lỡ một “miếng ngon” nào đó.

Anh Nguyễn Đình Tuấn (42 tuổi, Hà Nội), người đã gắn bó với bếp của nhà hàng hơn 6 năm, vừa quan sát khách hàng vừa khẽ thở dài. “Cứ đến cuối tuần, lượng đồ ăn thừa nhiều gấp đôi ngày thường. Có hôm, chúng tôi phải đổ bỏ gần 100 ký thực phẩm, nhiều đĩa đồ ăn còn y nguyên.” Anh Tuấn chỉ về những khay đồ ăn bị bỏ lại: “Có đĩa thịt nướng vẫn còn 3–4 miếng, có đĩa sushi chỉ bị gắp dở một miếng rồi để lại. Nhiều người lấy đầy tay, rồi ăn vài miếng lại bỏ. Họ nghĩ trả tiền rồi nên muốn lấy bao nhiêu cũng được.”

cream-grey-minimalist-collage-just-sold-real-estate-facebook-post.png
Bữa tiệc ánh sáng và thức ăn – Nơi mọi người tranh nhau lấy thật nhiều, đôi khi quá nhiều so với nhu cầu

Khi nhà hàng đóng cửa, nhóm nhân viên dọn dẹp tất bật gom rác. Tiếng nhựa, tiếng thủy tinh va vào nhau chan chát. Một chiếc thùng rác to bằng nửa người chứa đầy những thứ từng là món ăn hảo hạng: Cá hồi, bánh mì, rau củ… tất cả trộn lẫn thành hỗn hợp ướt át, bốc mùi nồng. “Chúng tôi phải đổ riêng ra túi đen, sáng hôm sau xe rác sẽ đến chở đi” – Anh Tuấn nói. “Có món mới bỏ cách đây vài tiếng, vẫn còn nóng, mà cũng phải vứt.”

Chị Nguyễn Mai (26 tuổi, Hưng Yên) – Nhân viên phục vụ của nhà hàng chia sẻ: “Tôi đi làm mới thấy rõ, lượng thức ăn người ta bỏ đi nhiều kinh khủng. Có hôm nhìn mà xót. Cứ tưởng là nhà hàng được ăn lại đồ dư, nhưng không được phép. Thế là đổ hết đi”.

blue-yellow-and-white-modern-summer-sale-facebook-post.png

Những “bữa tiệc thừa” ấy diễn ra hàng ngày giữa trung tâm Hà Nội, nơi mỗi đêm, xe chở rác nối đuôi nhau hướng về các bãi tập kết đã quá tải của thành phố.

Tình cảnh này không chỉ diễn ra ở các nhà hàng, quán ăn. Theo chân PV đến khu chợ đầu mối Long Biên vào một buổi chiều muộn, khung cảnh buôn bán vẫn tấp nập, xe hàng ra vào liên tục. Trên nền sàn ướt át, giữa những sọt rau quả tươi ngon là những thùng rau dập, hoa quả thối – “phế phẩm” còn sót lại sau một ngày giao dịch. “Ngày nào chẳng có vài tạ bị bỏ đi. Nhiều khi chỉ dập một góc mà người ta không mua, chúng tôi cũng đành đổ bỏ,” chị Bùi Xuân Hòa (36 tuổi, Hà Nội) – một tiểu thương bán rau tại chợ chia sẻ. Hình ảnh ấy lặp lại ở hàng trăm khu chợ, siêu thị, nhà hàng trong thành phố.

screenshot-2025-11-12-191632.png

Theo thống kê mới nhất, mỗi năm Việt Nam lãng phí hơn 8 triệu tấn thực phẩm, trong đó phần lớn vẫn còn ăn được hoặc có thể tận dụng. Con số khổng lồ ấy không chỉ khiến đất nước tổn thất khoảng 3,9 tỷ USD, tương đương gần 2% GDP, mà còn khiến Việt Nam trở thành quốc gia đứng thứ hai ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương về mức độ lãng phí thực phẩm.

tac-dong-cua-con-nguoi-den-ban-thuyet-trinh-khoa-hoc-he-thong-cua-trai-dat-theo-phong-cach-so-luu-niem-mau-nau-nhat.png

Theo PGS.TS Bùi Thị An, chính sự thay đổi trong thói quen và nhận thức đã khiến thực phẩm vốn là nguồn tài nguyên quý giá trở thành rác thải chỉ sau vài giờ xuất hiện trên bàn ăn.

Một vòng lãng phí vô hình

Nếu ở nhà hàng, thực phẩm bị lãng phí bởi thói quen “ăn cho biết, lấy cho đủ”, thì trong các gia đình, sự lãng phí lại đến từ nếp nghĩ “ăn dư cho sang”.

z7217257372237_14b7046f43603c6196b75dacfd70d6f2.jpg
Anh Nghiêm Văn Chính bên gian bếp nhỏ của gia đình – Nơi những bữa cơm “dư một chút cho yên tâm” dần trở thành thói quen khó bỏ của nhiều hộ gia đình thành thị

Trong căn hộ chung cư ở phường Phú Diễn (Hà Nội), anh Nghiêm Văn Chính (32 tuổi, Hà Nội) một nhân viên văn phòng đang dọn cơm tối. Bữa cơm gia đình anh có 4 người, nhưng bàn ăn bày đến 6 món: Canh, thịt luộc, giò, rau xào, đậu phụ,… thêm cả đồ ăn cũ từ ngày hôm trước. “Thói quen của tôi là nấu dư một chút, để phòng vợ hoặc con ăn thêm,” anh nói. Nhưng thực tế, bữa ăn kết thúc khi nồi cơm còn gần nửa, những đĩa thức ăn còn ngổn ngang. “Ngày nào cũng thừa, mà để lại thì hỏng, nên tôi đành đổ đi.”

Anh Chính kể: “Tôi biết là lãng phí, nhưng thành thói quen rồi. Hơn nữa, thấy đĩa cơm đầy đủ thì yên tâm, còn thiếu món lại sợ khách chê.” Câu nói tưởng chừng bình thường ấy lại chính là chân dung của hàng triệu gia đình thành thị, nơi sự no đủ đôi khi vượt quá nhu cầu thực tế, và sự tiện nghi khiến con người dễ quên đi công sức phía sau một bát cơm.

Có tới 87% hộ gia đình thừa nhận đã lãng phí ít nhất hai dĩa thức ăn mỗi tuần. Cơm, bún, phở, mì chiếm tỷ trọng cao nhất trong thực phẩm bị bỏ đi (68%), tiếp theo là thịt cá đã nấu chín (53%) và rau củ (44%).

Điều này bắt nguồn từ nhiều yếu tố văn hóa và tâm lý đặc thù: Thói quen “nấu dư để có phần cho người vắng mặt”, tâm lý sĩ diện trong tiệc tùng – “để thừa cho sang”, hay đơn giản là 49% người tiêu dùng quên mất đồ ăn để trong tủ lạnh đến khi hư hỏng.

Theo Food Bank Việt Nam

Ở những bữa tiệc cưới, sinh nhật, lễ hội – nơi người ta thích thể hiện sự hiếu khách bằng mâm cỗ đầy ắp, lượng thức ăn bị bỏ đi có khi lên tới 30–40% tổng số thực phẩm chế biến. Một nhân viên dọn tiệc tại Trung tâm hội nghị quốc gia chia sẻ: “Có tiệc 500 khách, sau khi khách ra về, chúng tôi gom lại gần 100 kg đồ ăn thừa, trong đó nhiều món còn nguyên.”

nhp_3757-copy.jpg
Mâm cỗ cưới đầy ắp món ăn – biểu trưng của sự hiếu khách trong văn hóa Việt nhưng cũng là “điểm nóng” của tình trạng lãng phí thực phẩm sau mỗi buổi tiệc

Rõ ràng, sau khi những bữa ăn kết thúc, câu chuyện lãng phí vẫn chưa dừng lại. Những túi rác đen chứa đầy cơm thừa, rau bỏ được người dân mang đi vứt. Những công nhân vệ sinh lại gom lại, chất lên xe rác. “Mỗi ngày chúng tôi thu vài tấn rác chỉ từ các hộ dân. Mùi hôi từ rác thực phẩm kinh khủng lắm, nhất là mùa hè,” bà Chi (60 tuổi, Hà Nội), công nhân thu gom rác tại phường Yên Hòa chia sẻ.

Mối hiểm họa khôn lường đối với khí hậu và môi trường

Ít ai nghĩ rằng, những phần cơm thừa hay chén canh bỏ lại trên bàn ăn lại đang âm thầm góp phần làm nóng lên hành tinh này.

Khoảng 31% tổng lượng phát thải khí nhà kính toàn cầu xuất phát từ hệ thống nông sản thực phẩm, từ khâu sản xuất, chế biến, vận chuyển cho đến tiêu thụ. Dù được ăn hay bị vứt bỏ, thực phẩm vẫn để lại một “dấu chân carbon” khổng lồ.

Theo Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hợp quốc (FAO)

Khi rác thải thực phẩm bị chôn lấp, quá trình phân hủy trong điều kiện yếm khí tạo ra khí metan (CH₄) — loại khí gây hiệu ứng nhà kính mạnh gấp 25 lần CO₂. Ở nhiều quốc gia, bãi rác thực phẩm đã trở thành “kho phát thải” metan khổng lồ, chiếm tới 15% lượng phát thải metan toàn quốc. Tại Việt Nam, phần lớn rác thực phẩm vẫn bị chôn trực tiếp, không qua phân loại hay thu hồi khí thải, khiến mỗi bữa cơm thừa vô tình “gửi thêm” vào bầu khí quyển một phần khí nóng lên toàn cầu.

tac-dong-cua-con-nguoi-den-ban-thuyet-trinh-khoa-hoc-he-thong-cua-trai-dat-theo-phong-cach-so-luu-niem-mau-nau-nhat-1-.png

Theo PGS.TS Bùi Thị An, để khắc phục, cần hướng đến việc phân loại và xử lý rác hữu cơ tại nguồn, biến chất thải thành tài nguyên, thay vì để tự phân hủy. “Sau phân loại và thu gom, cần áp dụng công nghệ sản xuất phân bón hoặc khí sinh học, đó là cách biến rác thành tài nguyên, chứ không phải để nó trở thành nguồn ô nhiễm,” bà nói.

Nhưng khí nhà kính chỉ là một phần của câu chuyện. Phía sau mỗi món ăn bị bỏ đi là một khối tài nguyên khổng lồ bị tiêu hao vô ích.

Hơn 1/4 diện tích đất nông nghiệp toàn cầu được dùng để sản xuất thực phẩm không bao giờ được ăn. Hàng tỷ lít nước ngọt, hàng triệu lít nhiên liệu hóa thạch, điện năng, và phân bón bị sử dụng mà không mang lại giá trị thực.

Theo Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hợp quốc (FAO)

Ở Việt Nam, chỉ riêng sản xuất lúa gạo – ngành tiêu thụ nước lớn nhất, mỗi năm đã thất thoát hàng triệu tấn do bảo quản kém và tiêu dùng dư thừa. Điều đó đồng nghĩa với việc hàng tỷ mét khối nước ngọt và hàng chục nghìn ha đất canh tác đã bị “nuốt chửng” một cách lãng phí.

Không dừng lại ở đó, rác thải thực phẩm còn là nguồn phát tán vi nhựa tiềm ẩn. Nhiều thực phẩm bị vứt đi kèm bao bì nhựa, khi phân hủy sẽ giải phóng hàng trăm nghìn mảnh vi nhựa vào đất, nước, rồi quay trở lại bàn ăn của chính con người qua chuỗi thực phẩm. Một vòng luẩn quẩn khó dứt.

unnamed-1-.png
Khi con người khai thác đất, nước, rừng để sản xuất dư thừa, môi trường sống tự nhiên của nhiều loài bị mất đi

Lãng phí thực phẩm cũng đồng nghĩa với sự hủy hoại đa dạng sinh học. Khi con người khai thác đất, nước, rừng để sản xuất dư thừa, môi trường sống tự nhiên của nhiều loài bị mất đi. Ở Việt Nam, việc mở rộng diện tích trồng lúa, cây công nghiệp và nuôi trồng thủy sản quá mức đã góp phần thu hẹp rừng tự nhiên, khiến nhiều loài đặc hữu như voọc chà vá chân nâu, cu li hay các loài chim quý hiếm mất nơi sinh sống.

Tất cả những điều đó cộng hưởng thành một “hóa đơn môi trường” khổng lồ mà thế giới và cả Việt Nam đang phải trả: Không chỉ là lượng khí thải khổng lồ, mà còn là đất đai thoái hóa, nguồn nước suy kiệt, đa dạng sinh học mất mát và hệ sinh thái bị tổn thương.

Khi nhận thức thay đổi, hành động sẽ bắt đầu

Trên thế giới, nhiều quốc gia đã xem giảm lãng phí thực phẩm là một trụ cột của chiến lược ứng phó biến đổi khí hậu.

Pháp ban hành luật cấm siêu thị vứt bỏ đồ ăn còn dùng được, yêu cầu tặng lại cho tổ chức từ thiện hoặc tái chế làm thức ăn chăn nuôi. Nhật Bản triển khai chiến dịch “Mottainai” – một khái niệm văn hóa khuyến khích trân trọng tài nguyên, coi việc bỏ thừa là hành động đáng xấu hổ. Các nước Bắc Âu phát triển hệ thống “ngân hàng thực phẩm”, thu gom và phân phối thực phẩm thừa cho người nghèo, đồng thời ứng dụng công nghệ sinh học để tái chế rác hữu cơ thành năng lượng sinh học.

thiet-ke-chua-co-ten-01.jpg
Với mô hình “cứu trợ thực phẩm”, dự án Hanoi Food Rescue (Biệt đội giải cứu đồ ăn) đã đem hơn 80.000 suất cơm miễn phí đến với người có hoàn cảnh khó khăn

Tại Việt Nam, những nỗ lực còn khiêm tốn nhưng đang dần xuất hiện. Dự án “Hanoi Food Rescue” (Biệt đội giải cứu đồ ăn) do nhóm sinh viên khởi xướng từ năm 2013 đã cứu hàng trăm tấn thực phẩm từ các nhà hàng, khách sạn, phân phối và chia sẻ cho những người có hoàn cảnh khó khăn.

Nhiều người dân tại các địa phương đã thực hiện việc phân loại rác tại nguồn, hay ủ rác hữu cơ thành phân bón. Tuy quy mô chưa lớn, song những sáng kiến ấy cho thấy nhận thức đang dần thay đổi.

Trong nhiều trường học, giáo viên lồng ghép bài học về tiết kiệm thực phẩm vào hoạt động ngoại khóa. “Trẻ con bây giờ học rất nhanh. Mỗi khi ăn cơm, các em tự giác lấy vừa đủ, nhắc nhau không bỏ thừa,” cô Trần Hồng Chúc (34 tuổi, Hà Nội), giáo viên tiểu học ở phường Láng (Hà Nội) chia sẻ.

Những hạt giống nhỏ của ý thức nếu được gieo trồng bền bỉ có thể tạo thành thay đổi lớn trong tương lai. Bởi lãng phí thực phẩm không chỉ là câu chuyện đạo đức, mà còn là một bài toán phát triển bền vững. Khi thực phẩm bị vứt đi, không chỉ nguồn lực kinh tế mất đi, mà đất, nước, năng lượng – những yếu tố nuôi sống con người cũng bị lãng phí theo.

tac-dong-cua-con-nguoi-den-ban-thuyet-trinh-khoa-hoc-he-thong-cua-trai-dat-theo-phong-cach-so-luu-niem-mau-nau-nhat-2-.png
tac-dong-cua-con-nguoi-den-ban-thuyet-trinh-khoa-hoc-he-thong-cua-trai-dat-theo-phong-cach-so-luu-niem-mau-nau-nhat-3-.png

Và có lẽ, điều cần nhất là sự đồng lòng từ chính mỗi bữa cơm gia đình. Hành động nhỏ như lên kế hoạch mua sắm hợp lý, ăn vừa đủ, bảo quản đúng cách… có thể góp phần tạo nên thay đổi lớn. Khi xã hội biết trân trọng từng hạt gạo, từng cọng rau, nghĩa là con người đã học lại cách sống hòa hợp với tự nhiên – điều mà thế hệ đi trước từng coi là lẽ hiển nhiên.

Theo Môi Trường và Cuộc Sống

Lén chôn 6 loại bã xuống vườn, ai cũng ngạc nhiên khi thấy kết quả

Những loại thực phẩm bỏ đi dưới đây có thể tái sử dụng làm phân bón cực tốt vì chúng không những cung cấp đầy đủ các dưỡng chất giúp cây phát triển toàn diện mà còn giúp đuổi một số côn trùng có hại cộng thêm giúp các vi sinh vật có ích trong đất phát triển.

Bất kỳ loại cây trồng nào muốn xanh tốt cũng cần phải được chăm sóc và bón phân định kỳ đầy đủ. Hiện nay trên thị trường có bán khá nhiều loại phân bón khác nhau, tuy nhiên, thay vì phải bỏ tiền mua tại sao bạn không tận dụng ngay những thứ được coi là phân bón tự nhiên có sẵn trong nhà như trứng, vỏ chuối, thức ăn thừa,… để bón cho cây, vừa tiết kiệm lại vừa đem lại hiệu quả bất ngờ đấy.

Một ngày nào đó, nếu thấy cây trong vườn có dấu hiệu kém phát triển, khô héo, thiếu sức sống, hãy thử chôn một quả trứng xuống đất vườn, tưởng chừng vô ích nhưng vài tuần sau bạn sẽ thấy điều thần kỳ xảy ra.

Quả trứng “thần kỳ” thế nào mà ai cũng muốn chôn ngay xuống vườn, kể cả là quả trứng đã vỡ.

Phân bón từ trứng và vỏ trứng

Đặt 1 quả trứng xuống đất trồng cây, thời gian sau bạn sẽ thấy cây xanh tốt, phát triển nhanh hơn nhiều.

Cách làm vô cùng đơn giản mà ai cũng có thể làm được. Chọn nơi bạn muốn trồng cây hoặc chọn vị trí có những cây kém phát triển mà bạn muốn bón phân, sau đó đào một hố sâu khoảng 50-60cm. Đặt một quả trứng nguyên vẹn hoặc đã nứt vỏ xuống hố, nếu muốn trồng cây hãy đặt luôn những hạt giống mới xuống cùng vị trí quả trứng, sau đó lấp đất lại.

Vậy tại sao trứng có thể thay thế phân bón cho cây? Trong thành phần của trứng và đặc biệt là vỏ trứng có chứa hàm lượng canxi rất lớn, cùng với các chất bổ dưỡng khác là “thức ăn” hữu cơ cần thiết cho cây trồng. Ngoài ra, sử dụng trứng bón cho cây còn giúp chống lại hiện tượng thối rữa rễ cây.

Ngoài ra, bạn cũng có thể sử dụng vỏ trứng nghiền nát rải quanh gốc cây, cung cấp canxi và chất bổ dưỡng cho cây.

Hơn nữa, trứng tươi hay đã hết hạn đều có thể được sử dụng bón cho cây mà không làm ảnh hưởng đến chất lượng cây trồng, vì thế bạn sẽ chẳng phải lo lắng mà cứ lấy bất kỳ quả trứng nào có sẵn trong nhà để bón cho cây, thậm chí là vỏ trứng đã qua sử dụng.

Ngoài cách sử dụng quả trứng để bón cho cây, các gia đình cũng có thể áp dụng một số nguyên vật liệu dưới đây để thay thế phân bón cây trồng:

Phân bón từ vỏ chuối

Vỏ chuối là một loại phân bón cần thiết đối với nhiều cây trồng trong vườn nhà, bởi nó chứa nhiều phốt pho và kali – những chất dinh dưỡng quan trọng cho sự phát triển của thực vật. Đối với cây sống trong không gian nhỏ như chậu, nếu bón vỏ chuối trực tiếp sẽ làm rễ bị thối.

Do vậy, vỏ chuối cần phải sơ chế bằng cách xay nhuyễn với một nhúm muối hạt (hoặc nước vo gạo) và vài mảnh vỏ trứng để bổ sung canxi cho cây. Sau khi xay nhuyễn đem chúng trộn với đất và để đất nghỉ khoảng một tuần, không nên lạm dụng bón quá nhiều.

Phân bón từ vỏ chuối hoặc bã cà phê.

Phân bón từ thức ăn thừa

Các loại thực phẩm thừa như rau, vỏ trái cây, vỏ trứng, giấy, trà túi lọc, nước vo gạo… đều có thể giữ lại làm phân bón nhưng nên được đựng và ủ trong thùng xốp hoặc thùng nhựa có nắp đậy. Hỗn hợp trên có thể ủ trong một vài tuần hoặc lâu hơn, sau đó chắt lấy nước sang một thùng khác để tưới cho rau, phần bã đã ủ dùng để bón cho cây với liều lượng vừa đủ.

Thức ăn thừa như  rau, vỏ trái cây, vỏ trứng, giấy, trà túi lọc, nước vo gạo,… cũng có thể tận dụng làm phân bón hữu cơ cho cây trồng.

Phân bón từ bã chè, bã cà phê

Chỉ cần đợi nguội, chắt hết nước có trong bã chè, bã cà phê rồi rải bã xuống gốc cây có thể giúp ngăn chặn sự tấn công của các loại côn trùng hoặc ốc sên.

Các loại cây ưa sống trong môi trường đất axit như hoa hồng, khoai lang, khoai tây, nha đam… rất chuộng loại phân bón từ bã cà phê.

Theo Báo Dân Việt