Biến phế phẩm nông nghiệp thành “vàng đen”

Dự án “Kinh tế tuần hoàn trong sản xuất ca cao” do Liên minh châu Âu tài trợ đang mở ra triển vọng mới cho nông nghiệp Việt Nam khi biến phụ phẩm nông nghiệp thành tài nguyên có giá trị, góp phần bảo vệ môi trường và tăng thu nhập cho nông dân.

Giải pháp than sinh học

Hàng năm, ngành nông nghiệp Việt Nam thải ra môi trường hàng triệu tấn phụ phẩm từ quá trình sản xuất, chế biến nông sản. Những phế phẩm này thường bị đốt bỏ hoặc xử lý không đúng cách, gây ô nhiễm môi trường và lãng phí nguồn tài nguyên tiềm năng. Thông qua Dự án “Kinh tế tuần hoàn trong sản xuất ca cao” do Liên minh châu Âu tài trợ, Helvetas Việt Nam đang thúc đẩy mô hình sản xuất không lãng phí, biến phụ phế phẩm nông nghiệp thành tài nguyên có giá trị.

Một trong những giải pháp nổi bật của dự án là công nghệ sản xuất than sinh học (biochar) từ đa dạng phụ phẩm nông nghiệp như vỏ ca cao, vỏ cà phê, vỏ mắc ca, cành lá, rơm, trấu và các phụ phẩm nông nghiệp khác. 

“Than sinh học là sản phẩm thân thiện với môi trường có nhiều ứng dụng trong nông nghiệp và công nghiệp. Việc chuyển hóa phụ phẩm nông nghiệp thành than sinh học không chỉ giải quyết vấn đề ô nhiễm mà còn tạo ra sản phẩm có giá trị kinh tế cao”, ông Nguyễn Đình Tuấn- Quản lý dự án chia sẻ.

Biến phế phẩm nông nghiệp thành “vàng đen” - Ảnh 1.
Chuyên gia của dự án đang đánh giá chất lượng sản xuất than sinh họctại HTX Nhất Tâm (xã Ea Đar, huyện Ea Kar, Đăk Lăk). Ảnh: Helvetas

“Từ một tấn phế phụ phẩm nông nghiệp, chúng ta có thể sản xuất khoảng 400-500kg than sinh học, tương đương với việc khóa hơn 1 tấn CO₂, đồng thời tạo ra sản phẩm có giá trị vài triệu đồng”.

TS Phạm Văn Lương – Giám đốc Quốc gia Helvetas Việt Nam

Dự án đã thử nghiệm 2 công nghệ khác nhau, khí hóa và nhiệt phân, để có thể cung cấp đa dạng các phương pháp phù hợp cho từng mục đích sử dụng và các nhóm đối tượng khác nhau, từ doanh nghiệp lớn tới các HTX, nông hộ. Công nghệ khí hóa có ưu điểm lớn là có thể cung cấp nhiệt để đun nấu hoặc sấy nông sản, trong khi đó phương pháp nhiệt phân là lựa chọn tối ưu để sản xuất than sinh học có chất lượng cao, có thể thương mại hóa.

Ứng dụng than sinh học trong nông nghiệp mang lại nhiều lợi ích toàn diện. Về môi trường, giải pháp này giúp giảm ô nhiễm do đốt phụ phẩm nông nghiệp, giảm phát thải khí nhà kính thông qua việc khóa carbon lâu dài trong đất, giảm sử dụng phân bón hóa học.

Về kinh tế, việc bán than sinh học vừa giúp tạo nguồn thu nhập thêm cho nông dân, đồng thời sử dụng than làm phân bón có thể cải thiện năng suất và chất lượng cây trồng và giảm chi phí đầu vào cho sản xuất nông nghiệp.

Biến phế phẩm nông nghiệp thành “vàng đen” - Ảnh 2.
Than sinh học có hàm lượng carbon hữu cơ và dinh dưỡng cao, phù hợp để cải tạo đất, tăng năng suất cây trồng. Ảnh: Helvetas

Về xã hội, sản xuất than sinh học tạo ra việc làm mới, đồng thời cải thiện sức khỏe cộng đồng do giảm ô nhiễm không khí từ đốt phụ phẩm nông nghiệp.

Mở rộng mô hình tại nhiều địa phương

Hiện dự án đang triển khai mô hình trình diễn sản xuất than sinh học bằng phương pháp nhiệt phân tại 2 nông hộ trồng ca cao ở huyện Ea Kar, Đăk Lăk. Trước đó, mô hình sản xuất than sinh học bằng phương pháp khí hóa, kết hợp sản xuất than và hệ thống sấy nông sản, đã được thử nghiệm thành công tại Công ty Ca cao Trọng Đức. Trên cơ sở thành công từ các mô hình này, dự án sẽ tiếp tục hỗ trợ các đơn vị đối tác khác trong ngành ca cao cũng như mở rộng áp dụng sang các ngành có tiềm năng áp dụng kinh tế tuần hoàn như cà phê, dừa, hồ tiêu, điều… tại miền Trung và ĐBSCL.

Ông Nguyễn Đình Tuấn chia sẻ: “Chúng tôi không đơn thuần chỉ xử lý chất thải nông nghiệp mà mong muốn nhân rộng việc áp dụng bộ giải pháp kinh tế tuần hoàn của ngành ca cao sang các ngành nông sản thực phẩm khác của Việt Nam”.

Dự án đang triển khai tổ chức các khóa đào tạo cho nông dân, doanh nghiệp và các bên liên quan, đồng thời biên soạn tài liệu và video hướng dẫn để giúp nhân rộng mô hình. 

Theo Báo Dân Việt

Biến vỏ bưởi bỏ đi thành tinh dầu, dược liệu và phân hữu cơ

Không chỉ là phụ phẩm bị bỏ phí, vỏ bưởi chứa hàm lượng tinh dầu và naringin có giá trị cao. Nghiên cứu của Trường Đại học Cần Thơ đã chứng minh khả năng khai thác hiệu quả nguồn nguyên liệu này, góp phần giảm lãng phí nông sản và nâng cao giá trị kinh tế.

Nghiên cứu công nghệ sản xuất naringin và tinh dầu từ vỏ quả bưởi và xây dựng mô hình sản xuất thực nghiệm - Cổng thông tin điện tử Cục Thông tin, Thống kê

Bưởi là loại cây ăn quả, được trồng phổ biến. Một trong những vấn đề gặp phải khi tiêu thụ bưởi là tỷ lệ phần ăn được (thịt quả) rất thấp. Đây là đặc điểm chung của các loại cây có múi do có lớp vỏ dày, dẫn đến lượng phụ phẩm chiếm hơn 50%. Hiện nay, trong quá trình sản xuất, một lượng lớn vỏ quả bị vứt bỏ hoặc ủ phân hữu cơ vi sinh. Điều này thực sự hết sức lãng phí vì vỏ của các loại quả có múi chứa một lượng lớn tinh dầu cũng như naringin. Chẳng hạn, hàm lượng tinh dầu chiếm khoảng 0,4-1% khối lượng vỏ bưởi. Tinh dầu trong vỏ của các loại quả có múi chứa một hỗn hợp các chất thơm dễ bay hơi và có giá trị kinh tế cao. Trong đó, hợp chất hữu D-limonene là thành phần chủ yếu, chiếm tỷ lệ cao nhất, được ứng dụng rộng rãi trong ngành công nghiệp mỹ phẩm, thực phẩm, hương liệu, và dược phẩm để tạo hương thơm. D-limonene còn có tác dụng chống ô xy hóa, tăng cường sự thẩm thấu của các sản phẩm dưỡng da. Bên cạnh đó, Naringin được tìm thấy trong vỏ bưởi, chanh, hạt quýt, thuộc nhóm flavonoid, có khả năng chống oxy hoá, ngừa xơ cứng động mạch, gián tiếp chống cao huyết áp và tai biến mạch máu não.

Nhằm tận dụng nguồn phụ phẩm từ trái bưởi, nhóm nghiên cứu Trường Đại học Cần Thơ đã thực hiện đề tài “Nghiên cứu công nghệ sản xuất naringin và tinh dầu từ vỏ quả bưởi và xây dựng mô hình sản xuất thực nghiệm” với mục tiêu không chỉ đưa ra quy trình sản xuất naringin và tinh dầu từ vỏ quả bưởi, phụ phẩm của quá trình này cũng được nhóm nghiên cứu đã tận dụng để ủ thành phân hữu cơ bón cho cây trồng. Theo đó, một số loại bưởi như Năm Roi, Da Xanh, Lông Cổ Cò, Thanh Kiều được thu hái trực tiếp tại nhà vườn. Sau khi được xử lý rửa sạch nhiều lần với nước để loại bỏ bụi bám, vỏ quả bưởi được tách riêng hai phần vỏ xanh và trắng rồi đem cắt nhỏ. Vỏ bưởi trắng cắt miếng nhỏ được sấy ở nhiệt độ 65 độ C trong 24 giờ, tiếp theo xay thành bột mịn. Bột vỏ trắng này được sử dụng để thu nhận naringin. Vỏ xanh cắt miếng nhỏ được sử dụng cho quá trình thu nhận tinh dầu. Quy trình thu nhận tinh dầu bằng phương pháp ép được nhóm tác giả thực hiện bằng cách đưa vỏ bưởi xanh vào máy ép với tốc độ 35 Hz, vừa ép vừa phun nước để hỗ trợ ly trích tinh dầu. Dịch chiết sau khi ép được bổ sung muối với nồng độ 2% và để lắng ở 30 độ C. Dịch ép để lắng qua đêm sẽ tách thành hai phần, đem ly tâm từng phần (6.000 vòng/phút) để thu hồi tinh dầu và làm khan tinh dầu thu được bằng Na2SO4. Hàm lượng hợp chất D-limonene có trong tinh dầu từ 89,944% – 93,826%.

Đối với quy trình thu nhận tinh dầu bằng phương pháp chưng cất, đưa vỏ bưởi xanh cắt miếng nhỏ vào máy xay, bổ sung nước theo tỉ lệ nước-nguyên liệu là 3:1 (mL/g), xay nhuyễn hỗn hợp. Cho toàn bộ hỗn hợp vào bình cầu và dưới sự hổ trợ của dầu tải nhiệt sẽ tiến hành chưng cất bằng hơi nước ở 130 độ C trong 90 phút. Sau đó, làm khan tinh dầu bằng Na2SO4. Hàm lượng hợp chất D-limonene có trong tinh dầu từ 78,839% – 97,539%. Ở quy trình thu nhận naringin, bột vỏ bưởi trắng đã sấy khô ngâm với ethanol 80% trong 1,5 giờ theo tỉ lệ mẫu và ethanol 80% là 1:14, trích hỗn hợp bằng phương pháp Soxhlet ở 80oC trong 5,5 giờ. Dịch trích được cô quay chân không ở 70oC để loại bỏ dung môi (còn khoảng 1/10 thể tích ban đầu). Kết tinh dịch trích sau cô quay được để yên ở nhiệt độ phòng trong 48 giờ. Lọc bằng giấy lọc để thu kết tinh và rửa lại bằng cồn 96%, để khô ở nhiệt độ phòng và sấy ở 50 độ C để thu hồi naringin. Hàm lượng naringin trong dịch trích chiếm 73,26%. Phụ phẩm vỏ bưởi sau chưng cất được nhóm xử lý thành phân compost. Nhóm nghiên cứu đã đem phơi vỏ bưởi sau chưng cất tinh dầu cho ráo nước. Phối hợp với một số cơ chất khác như tro trấu, xơ dừa, phân NPK và chế phẩm Trichoderma. Cho toàn bộ hỗn hợp vào thùng ủ và cung cấp nước cho khối ủ để đạt độ ẩm 40-60%. Cách ba ngày kiểm tra khối ủ và đảo trộn ba ngày một lần. Sau 39 ngày ủ, khối ủ được đánh đống ba-bốn ngày để giảm nhiệt độ và ổn định chất hữu cơ, và có thể bón cho cây trồng.

Theo nhóm tác giả, các phương pháp nói trên dễ áp dụng, sử dụng dung môi an toàn, rẻ tiền, có thể áp dụng quy mô công nghiệp cho ngành dược phẩm. Kết quả nghiên cứu có thể chuyển giao cho các đơn vị có nhu cầu và điều chỉnh từng phương pháp theo yêu cầu cho phù hợp với quá trình sản xuất thực tế.

Theo nongnghiephuuco.vn

Biến phế phẩm nông nghiệp thành sản phẩm tiêu dùng

Việt Nam hiện có rất nhiều mặt hàng nông sản xuất khẩu ra thế giới cũng như tiêu dùng trong nước. Bên cạnh sản phẩm chính thì phế phụ phẩm từ nông nghiệp hàng năm loại thải ra rất nhiều, gây lãng phí nguồn tài nguyên. Do đó, biến phụ phẩm nông nghiệp thành sản phẩm tiêu dùng không chỉ đem lại hiệu quả kinh tế mà còn giảm phát thải ra môi trường.

Tổng lượng phế, phụ phẩm trong nông nghiệp của Việt Nam vào năm 2022 ước tính gần 160 triệu tấn. Lượng phế, phụ phẩm sau thu hoạch cây trồng trên đồng ruộng khoảng 90 triệu tấn (chiếm 56,2%). Trong đó, phụ phẩm trồng trọt sau thu hoạch từ rơm lúa chiếm khối lượng lớn (42,8 triệu tấn), thân cây bắp (10 triệu tấn), rau và quả (3,6 triệu tấn), thân cây mì (3,1 triệu tấn), trái giả đào lộn hột (3,1 triệu tấn) và các loại khác (6,1 triệu tấn). Trong đó có tới 61% là hữu cơ có thể tái chế được, chứa đựng lượng dinh dưỡng rất tốt, có thể hoàn trả, cải tạo bồi dưỡng lại cho đất.

Tận dụng được nguồn phế thải nông nghiệp tạo ra các sản phẩm khác là một hoạt động đem lại hiệu quả cao, không chỉ về kinh tế mà còn góp phần giảm phát thải ra môi trường. Cùng điểm qua một số sản phẩm từ phế thải nông nghiệp sau đây:

Sản xuất màng bọc thực phẩm từ nước dừa khô

PGS.TS Hoàng Xuân Niên và cộng sự Trường Đại học Thủ Dầu Một đã thực hiện thành công đề tài “Nghiên cứu công nghệ sản xuất màng cellulose sinh học từ nước quả dừa khô ứng dụng làm bao gói thực phẩm”. 

Sau ba năm thực hiện đề tài,  PGS.TS Hoàng Xuân Niên và cộng sự , với sự hợp tác của các nhà nghiên cứu ở Phân hiệu Trường Đại học Lâm nghiệp Đồng Nai và Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP. Hồ Chí Minh đã tạo ra mô hình thiết bị sản xuất màng cellulose sinh học từ nước quả dừa khô quy mô công suất 300 kg/ngày.

Mô hình sản phẩm làm từ nước quả dừa khô có thể đạt công suất lớn 300 kg/ngày.

Theo PGS.TS Hoàng Xuân Niên, sản phẩm màng cellulose vi sinh được sản xuất theo phương pháp mới tạo ra sản phẩm mới sẽ có hiệu quả kinh tế cao. Năng suất của dây chuyền sản xuất cao, nguyên liệu sản xuất có thể tận dụng được những phần loại ra từ các quá trình sản xuất những sản phẩm từ celluose vi sinh khác.

Đặc biệt, kích thước sản phẩm lớn, nhiều định lượng nên có thể sử sụng theo nhiều mục đích khác nhau. Sản phẩm khô, dễ bảo quản, dễ vận chuyển, góp phần phát triển kinh tế – xã hội của địa phương, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững ngành chế biến dừa.

Sự hình thành bộ tiêu chuẩn cơ sở cho sản phẩm màng cellulose sinh học, quy trình công nghệ sản xuất đi kèm đã giúp sản phẩm thu hút được khách hàng. Dự kiến từ năm 2025, sản phẩm sẽ được ứng dụng tại Công ty TNHH chế biến sản phẩm dừa Cửu Long, DNTN và Công ty TNHH Vĩnh Tiến để đưa sản phẩm ra thị trường.

Sản xuất vật liệu dệt sinh thái từ xơ lá dứa

Sau hơn 3 năm nghiên cứu và phát triển, Bảo Lân Textile và Ecofa Việt Nam vừa chính thức giới thiệu tơ, sợi, vải sinh thái Ananas được sản xuất đại trà từ xơ lá dứa – một phế phẩm nông nghiệp phổ biến tại Việt Nam.

Trong đó, Ecofa Việt Nam đảm nhiệm việc cung cấp tơ dứa sẵn sàng kéo sợi và sợi pha trộn. Thử nghiệm này bắt đầu vào giữa năm 2021. Đến đầu năm nay, công ty đã có thể cung cấp 18 tấn tơ dứa từ hơn 1 triệu tấn lá dứa thu hoạch mỗi tháng. Dự kiến sản lượng sẽ tăng lên 50 tấn/tháng vào cuối năm 2025.

Sợi Ananas được sản xuất đại trà

“Biến phế phẩm trồng dứa thành sợi vải may mặc” không phải là khái niệm mới. Quy trình được hiểu đơn giản là tách xuất xơ dứa thô (cùng màu & độ dài) từ lá, rồi “bông” xơ thô thành tơ (đảm bảo đồng đều màu, độ ẩm, dài & mảnh). Lúc này, tơ dứa mới được dùng kéo sợi, dệt vải. Sau đó, Bảo Lân Textile sẽ sử dụng tơ dứa do Ecofa Việt Nam cung cấp để tạo ra các sản phẩm sợi và vải dứa Ananas phục vụ ngành dệt, may mặc, thời trang, nội thất…

Ngoài ra, các sản phẩm từ Ananas được Viện Nghiên cứu Dệt may TP. Hồ Chí Minh (VTRSI-TTC) và Tổ chức Kiểm tra và phân tích kỹ thuật Nissenken (Nhật Bản) cấp chứng nhận cho 4 tính năng gồm độ bền vải, khử mùi tự nhiên trên sợi, kháng khuẩn tự nhiên trên sợi và chống UV tự nhiên trên tơ lên đến 50+UPF.

Bà Nguyễn Thị Tuyết Mai, Phó tổng thư ký Hiệp Hội Dệt may Việt Nam (Vitas) nhìn nhận trong bối cảnh ngành dệt may trong nước và thế giới vẫn còn thiếu nguyên liệu sản xuất hướng đến thời trang xanh, việc thành công nghiên cứu và sản xuất đại trà, khép kín tơ sợi dứa đủ chất lượng làm vải may mặc, có tác động rất tích cực đến sự phát triển ngành dệt may, không chỉ trong biên giới Việt Nam.

“Sản phẩm đánh dấu bước ngoặt lớn cho sự kết nối giữa ngành nông nghiệp trồng dứa Việt Nam và xu thế thời trang xanh toàn cầu”, bà Mai nhấn mạnh.

Sản phẩm pallet làm từ sơ vỏ dừa

Từ phế phẩm nông nghiệp như vỏ dừa, vỏ trấu, vỏ cà phê, vụn gỗ…, những tấm pallet thành hình khởi nguồn từ một start-up nhằm sản xuất, nghiên cứu giải pháp thay thế nhựa bằng phế phẩm nông nghiệp bị vứt bỏ, cũng là nỗ lực góp phần giải quyết các vấn đề ô nhiễm rác thải nhựa và phát thải khí nhà kính từ ngành nhựa.

Đây là sáng kiến mang tên NetZero Pallet của startup AirX Carbon do Lê Thanh và Dương Tiết Anh sáng lập – dự án giành giải quán quân trong cuộc thi Startup Wheel 2024.

Sản phẩm từ xơ dừa của startup AirX Carbon

Xơ và vỏ dừa khô, sạch, không lẫn tạp chất được chọn lựa và thu mua từ các nhà máy chế biến dừa hoặc mua trực tiếp từ các vựa thu mua phế liệu nông nghiệp. Sau đó, phơi hoặc sấy khô xơ dừa để đảm bảo độ ẩm phù hợp đồng thời để xơ dừa có điều kiện tốt nhất.

Kết hợp công nghệ sản xuất dưới áp suất và nhiệt độ cao hình thành nên pallet phế phẩm nông nghiệp xơ dừa cứng cáp và có tải trọng tương đương với pallet gỗ và pallet nhựa truyền thống với hơn 2 tấn tải trọng động dành cho vận tải và 5 tấn tải trọng tĩnh dành cho lưu trữ.

NetZero Pallet có cấu trúc phẳng dùng để cố định hàng hóa mỗi khi dùng xe nâng pallet, hoặc các thiết bị vận chuyển khác. Anh Lê Thanh cho biết, tương tự pallet gỗ truyền thống, nhưng pallet xơ dừa có giá bán rẻ hơn 20%, thiết kế có thể xếp chồng lên nhau giúp tiết kiệm 70% không gian kho bãi và giảm 50% chi phí vận chuyển.

“Quan trọng là thực hành kinh tế tuần hoàn, khai thác giá trị của phế phẩm nông nghiệp, tránh phá rừng khai thác gỗ làm pallet, nhất là tạo thêm dòng thu nhập mới cho nông dân địa phương”, anh Lê Thanh chia sẻ.

Việc biến phế phẩm nông nghiệp thành các sản phẩm tiêu dùng không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn góp phần quan trọng trong việc bảo vệ môi trường và phát triển bền vững. Bằng cách tận dụng nguồn tài nguyên sẵn có, chúng ta không chỉ giảm thiểu lượng rác thải nông nghiệp mà còn tạo ra những sản phẩm giá trị, thúc đẩy nền kinh tế tuần hoàn. Đây là hướng đi tiềm năng cho ngành nông nghiệp, giúp nâng cao giá trị sản xuất và mở ra cơ hội cho các doanh nghiệp, góp phần vào sự phát triển xanh và bền vững của đất nước.

Theo moitruongachau.com

Lợi ich từ tái sử dụng phế phẩm nông nghiệp

Lâm Đồng là một tỉnh phát triển mạnh về nông nghiệp, đi kèm với đó là một lượng phụ phẩm nông nghiệp lớn thải ra môi trường hằng năm. Để giảm thiểu ô nhiễm môi trường đồng thời tận dụng các loại phụ phẩm làm các loại phân bón, tái sử dụng cho canh tác.

Hội Nông dân tỉnh Lâm Đồng đã hỗ trợ nông dân các giải pháp kỹ thuật để tái chế rác thải một cách hiệu quả.

Anh Trần Hữu Nguyễn ở xã Ninh Gia, Huyện Đức Trọng vừa trồng chuối, trồng rau và nuôi heo. Anh đã tận dụng các phế phẩm từ cây chuối để nuôi heo. Cùng với đó, bằng sự hỗ trợ kỹ thuật và vật tư từ Hội Nông dân huyện anh đã ủ thành công phân trùn quế từ ủ phân heo để trồng rau sạch. Quy trình khép kín này đã giúp anh tiết kiệm chi phí và môi trường sản xuất luôn sạch sẽ.

Để giúp nông dân xây dựng các bể chứa xử lý phụ phẩm nông nghệp, Hội Nông dân các cấp đã hỗ trợ các vật tư bao Sồm gạch, cát, đá, tôn xi măng… Từ đó, bà con thực hiện mô hình nuôi sâu canxi; xây dựng mô hình nuôi trùn quế; xây dựng mô hình nuôi gà trên đệm lót sinh học dày. Ngoài ra, Hội nông dân còn hỗ trợ nông dân các loại trứng sâu canxi, trùn quế giống, chế phẩm ủ phân hữu cơ, chế phẩm ủ thức ăn lên men phục vụ chăn nuôi; hỗ trợ thùng rác và máy thái đa năng chuyên xay phụ phẩm nông nghiệp. Đây là các vật tư, công cụ, giống nuôi trồng cần thiết để xây dựng các mô hình xử lý rác thải nông nghiệp thành các loại phân bón, chế phẩm phục vụ lại hoạt động sản xuất nông nghiệp tại các khu vực nông thôn.

Theo thống kê, mỗi năm, Lâm Đồng có khoảng 1 triệu tấn chất thải từ chăn nuôi, trong đó, có khoảng trên 70% được thu gom, ủ vi sinh nhằm làm phân bón cho cây trồng. Đồng thời, có khoảng khoảng 80% lượng nước thải từ chăn nuôi gia súc được thu gom vào hệ thống hầm biogas để xử lý tạo khí đốt, một phần được thải vào các bể sinh học.

Ngoài ra, còn một số lượng lớn thân, cành, vỏ thực vật cũng được tận dụng để ủ phân. Việc sử dụng phế phụ phẩm nông nghiệp thời gian qua đã giúp nông dân giảm chi phí đầu vào trong chăn nuôi, trồng trọt, góp phần hạn chế sử dụng các loại vật tư nông nghiệp và tạo ra sản phẩm nông sản chất lượng, sạch. Đặc biệt, thúc đẩy sản xuất nông nghiệp theo hướng bền vững, thích ứng với điều kiện biến đổi khí hậu. Nắm bắt được các ưu điểm của nông nghiệp tuần hoàn, nhiều doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ hợp tác, người dân trên địa bàn tỉnh đã triển khai các mô hình theo hướng nông nghiệp tuần hoàn, mang lại hiệu quả cao.

Theo Báo Lâm Đồng

Sản xuất tơ sợi từ lá dứa mở ra giá trị mới cho phụ phẩm nông nghiệp

Mô hình sản xuất tơ sợi từ lá dứa (khóm) tại xã Hỏa Lựu, thành phố Cần Thơ đang trở thành một điển hình về kinh tế tuần hoàn.

Mô hình này đã giúp người dân mở ra hướng đi mới, biến phụ phẩm nông nghiệp thành nguồn nguyên liệu quý giá để dệt nên những sợi tơ bền chắc.

Chú thích ảnh
Sợi dứa (khóm) được phơi dưới ánh nắng tự nhiên trong khoảng 24 giờ trước khi giao cho đối tác. 

Biến phế phẩm thành nguồn thu nhập

Vùng khóm Cầu Đúc với lịch sử hơn 100 năm đã trở thành biểu tượng của vùng đất phèn mặn xã Hỏa Lựu. Tuy nhiên, hàng thập kỷ qua, sau mỗi chu kỳ thu hoạch trái từ 3 đến 4 năm, việc xử lý hàng chục nghìn tấn lá khóm già luôn là bài toán nan giải đối với nông dân. Phương thức truyền thống thường là phun thuốc diệt cỏ cháy để lá khô héo rồi đốt bỏ ngay tại cánh đồng.

Ông Phạm Văn Nương, ấp Mỹ Hiệp 1, xã Hỏa Lựu chia sẻ, trước đây, khi phá bỏ một vườn khóm già (thường sau 3 – 4 năm canh tác), nông dân phải tốn chi phí thuê người phun xịt thuốc cỏ cháy. Sau khoảng nửa tháng, khi lá đã khô héo, họ mới tiến hành đốt và dọn dẹp để lấy củ hủ, chuẩn bị cho vụ mới. Quy trình này không chỉ tốn kém chi phí hóa chất, công sức mà còn để lại hệ lụy nặng nề cho sức khỏe người lao động, làm ô nhiễm nguồn nước và hủy hoại hệ sinh thái đất vốn đã chịu nhiều áp lực của vùng đất phèn mặn.

Từ đầu tháng 7/2025, Hợp tác xã Sản xuất, thương mại, dịch vụ Cần Thơ Farm đã triển khai lắp đặt máy móc, thu mua lá khóm của người dân để sản xuất tơ sợi. Tuy nhiên, hiện nhiều hộ dân trồng khóm vẫn còn e dè khi mức giá thu mua chỉ khoảng 1.000 đồng/kg. Khi liên kết với hợp tác xã, thay vì xịt thuốc, người trồng khóm chỉ cần chặt lá tươi bán. Với mỗi công đất (1.000m2) trồng khoảng 3.000 bụi khóm, nông dân có thể thu về từ 2,5 đến 3 tấn lá (tương đường 2,5 – 3 triệu đồng/công) nhưng nhiều nhà vườn cho rằng “chặt lá bán như vậy là lỗ công”.

Chú thích ảnh
Sợi dứa (khóm) được cắt tỉa loại bỏ tạp chất trước khi đem phơi. 

Vì bài toán kinh tế, hiện vẫn chưa nhiều nông dân trồng khóm “mặn mà” hợp tác bán lá khóm nhưng Hợp tác xã Sản xuất, thương mại, dịch vụ Cần Thơ Farm vẫn không bỏ cuộc. Để có nguồn nguyên liệu ép sợi, ngoài thu gom lá ở các vườn trồng khóm tại địa phương, hợp tác xã mở rộng thu mua ở các tỉnh lân cận.

Để đáp ứng yêu cầu khắt khe của ngành dệt may, quy trình chế biến tại xưởng của Hợp tác xã Sản xuất, thương mại, dịch vụ Cần Thơ Farm được vận hành qua 5 công đoạn chính. Theo ông Phạm Văn Nương, lá khóm đạt chuẩn phải là lá của cây khóm Cầu Đúc từ 3 đến 4 năm tuổi, chiều dài tối thiểu đạt 45cm. Những lá non hoặc lá từ vườn bị ngập nước thường không đủ độ dai để tách sợi.

Tại xưởng sản xuất, lá khóm tươi được đưa vào máy làm dập để loại bỏ 80% mạt lá. Sau đó, công nhân sắp xếp thẳng hàng để đưa vào máy tuốt sợi. Sợi sau khi tuốt được cắt tỉa tạp chất, xịt rửa kỹ bằng nước sạch rồi đưa vào máy ly tâm sấy khô. Công đoạn cuối cùng là phơi dưới ánh nắng tự nhiên trong khoảng 24 giờ trước khi giao cho đối tác.

Chú thích ảnh
Hoạt động sản xuất tại xưởng của Hợp tác xã Sản xuất, thương mại, dịch vụ Cần Thơ Farm.

Từ thực tế sản xuất cho thấy, trung bình 60kg lá khóm tươi sẽ cho ra 1kg sợi khô. Hiện tại, Hợp tác xã Sản xuất, thương mại, dịch vụ Cần Thơ Farm đang bán sợi thô cho Công ty EcoFarm với mức giá từ 160.000 đến 170.000 đồng/kg. Đây là nguồn nguyên liệu được ưa chuộng để sản xuất các loại vải cao cấp, thân thiện với môi trường, phục vụ phân khúc thời trang xanh trên thế giới.

Bên cạnh giá trị kinh tế trực tiếp, xưởng sản xuất đang tạo việc làm ổn định cho 9 lao động địa phương với mức thu nhập từ 250.000 đến 300.000 đồng/ngày. Đây là mức thu nhập khá tốt tại khu vực nông thôn, giúp nhiều gia đình ổn định cuộc sống mà không phải ly hương cầu thực.

Mỗi ngày, xưởng xử lý từ 1,8 đến 2 tấn lá khóm tươi, góp phần đáng kể vào việc giải quyết bài toán thừa dư phụ phẩm tại địa phương. Dù quy mô hiện tại còn khiêm tốn và máy móc đang trong quá trình hoàn thiện, nhưng hợp tác xã luôn trong tình trạng “cháy hàng”. Doanh nghiệp đối tác sẵn sàng thu mua toàn bộ sản lượng sợi làm ra, cho thấy tiềm năng cực lớn của loại nguyên liệu xanh này trong xu thế thời trang bền vững của thế giới.

Tầm nhìn chiến lược cho thương hiệu dứa 100 năm tuổi

Tổng diện tích khóm trên địa bàn xã Hỏa Lựu là 2.175 ha, năng suất 16,5 tấn/ha , sản lượng 1.897,5 tấn. Ông Nguyễn Thanh Phong, Bí thư xã Hỏa Lựu nhấn mạnh, chính quyền địa phương xác định cây khóm chiếm tới 90% diện tích sản xuất nông nghiệp toàn xã. Việc thành lập hợp tác xã sản xuất sợi từ lá khóm vào ngày 1/7/2025 là bước đi chiến lược nhằm nâng cao đời sống người dân và tối ưu hóa chuỗi giá trị nông sản.

Chú thích ảnh
Sợi dứa (khóm) được rửa kĩ bằng nước sạch trước khi đưa vào máy ly tâm sấy khô. 

“Chúng tôi không chỉ dừng lại ở việc tận dụng phụ phẩm. Trong nhiệm kỳ 2026 – 2030, Đảng ủy xã đã đề ra nghị quyết phát triển nông nghiệp gắn với công nghiệp chế biến và du lịch miệt vườn. Đặc biệt, xã đang phối hợp với các doanh nghiệp lớn như Nutifood để cải tạo giống khóm truyền thống sang giống MD2 đạt tiêu chuẩn xuất khẩu toàn cầu”, ông Phong cho biết thêm.

Để giải quyết bài toán thiếu hụt nguyên liệu do việc canh tác còn nhỏ lẻ, xã Hỏa Lựu đang đẩy mạnh liên kết vùng với các địa phương lân cận như xã Vĩnh Viễn và các vùng trồng khóm tại tỉnh An Giang. Mục tiêu là hình thành vùng nguyên liệu tập trung quy mô lớn, ứng dụng khoa học công nghệ để giảm chi phí đầu vào và đảm bảo đầu ra ổn định thông qua các hợp đồng bao tiêu dài hạn.

Lợi thế của vùng khóm Cầu Đúc nằm ở chất đất đặc thù – thấm nước tốt, giúp cây khóm có độ bền và tuổi thọ cao, kết hợp với điều kiện phèn mặn mùa khô đã tạo nên hương vị khóm Cầu Đúc ngọt thanh, ít nước, nổi tiếng xa gần. Đây chính là tiền đề để địa phương thu hút đầu tư vào Cụm công nghiệp 50ha trên địa bàn, tập trung vào lĩnh vực chế biến sâu để xuất khẩu các sản phẩm từ trái và sợi khóm.

Chính quyền xã Hỏa Lựu cam kết sẽ tiếp tục tranh thủ các nguồn lực hỗ trợ từ cấp trên để giúp Hợp tác xã Sản xuất, thương mại, dịch vụ Cần Thơ Farm mở rộng quy mô, đồng thời đẩy mạnh tuyên truyền để 100% hộ dân hiểu và tham gia vào chuỗi liên kết.

Chú thích ảnh
Sợi dứa (khóm) là loại nguyên liệu xanh trong xu thế thời trang bền vững của thế giới. 

Dù chặng đường phía trước còn nhiều khó khăn về công nghệ và việc thay đổi thói quen của toàn bộ cộng đồng, nhưng với sự đồng lòng của chính quyền, sự quyết tâm của Hợp tác xã Sản xuất, thương mại, dịch vụ Cần Thơ Farm và sự ủng hộ của người dân, sợi tơ từ lá khóm chắc chắn sẽ còn vươn xa, dệt nên tương lai tươi sáng cho vùng đất phèn mặn Hỏa Lựu.

Theo TTXVN

Đầu tư mạnh các mô hình ‘biến chất thải thành tiền’

An Giang ưu tiên các nguồn lực, thu hút đầu tư nhằm đẩy mạnh việc sử dụng các phế, phụ phẩm trong sản xuất nông nghiệp để sản xuất phân bón hữu cơ.

Hiện nay, việc sử dụng phân bón vô cơ (hóa học) trong sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam đã tăng rất nhanh, đang phải đối mặt với tình trạng thiếu hụt nguyên liệu và có nhu cầu sử dụng phân bón rất lớn. Bộ NN-PTNT và các tỉnh ĐBSCL đang khuyến khích doanh nghiệp, HTX và bà con nông dân tận dụng rơm rạ, tro trấu, lục bình, phân chuồng (trâu, bò, gà vịt, heo), phụ phẩm nông sản, phụ phẩm thủy sản từ nhà máy chế biến sẵn có rất phong phú để làm phân bón hữu cơ phục vụ lại cho cây trồng.

Chất thải trong nuôi thủy sản là một trong những tiềm năng rất lớn để tận dụng làm phân bón hữu cơ. Ảnh: Lê Hoàng Vũ.
Chất thải trong nuôi thủy sản là một trong những tiềm năng rất lớn để tận dụng làm phân bón hữu cơ. Ảnh: Lê Hoàng Vũ.

Việc tận dụng phụ phẩm nông nghiệp để sản xuất phân hữu cơ vừa giúp giảm chi phí đầu vào trong sản xuất, cải thiện dinh dưỡng đất lâu dài, từ đó tạo ra sản phẩm nông sản an toàn, bền vững, đồng thời giảm tác động tiêu cực tới môi trường.

Theo TS Châu Thị Đa, nghiên cứu viên Khoa Khoa học ứng dụng (Trường Đại học Tôn Đức Thắng – TP.HCM), việc sử dụng phân hữu cơ được sản xuất từ nguồn phụ phẩm nông nghiệp – thủy sản trộn với các nguyên liệu hữu cơ khác tại địa phương vừa là giải pháp giảm thiểu ô nhiễm trong khu vực, vừa là tiềm năng lớn để cải thiện đất nông nghiệp.

An Giang là tỉnh phát triển nuôi trồng thủy sản lớn, đứng nhất nhì ở ĐBSCL với hàng trăm ao nuôi cá tra có diện tích khoảng 1.200ha/năm. Các chất lơ lửng trong ao nuôi cá tra như phân cá, bùn thải đáy ao nuôi cá tra được hút nạo vét 2 tháng/lần trong chu kỳ nuôi (6 tháng) là lượng chất thải lớn có thể tận dụng để làm phân hữu cơ. Đặc biệt trong ao nuôi cá, bùn thải từ các đáy ao thủy sản thâm canh rất giàu chất hữu cơ, ni tơ, phốt pho và các chất dinh dưỡng đa lượng, vi lượng.

An Giang đang triển khai một số mô hình tận dụng rơm rạ để chế biến thành phân hữu cơ phục vụ lại cho cây trồng. Ảnh: Lê Hoàng Vũ.
An Giang đang triển khai một số mô hình tận dụng rơm rạ để chế biến thành phân hữu cơ phục vụ lại cho cây trồng. Ảnh: Lê Hoàng Vũ.

“Việc tận dụng và tái sử dụng bùn thải giàu dinh dưỡng từ phân cá, bùn thải ao nuôi, xác cá chết phối trộn với phụ phẩm nông nghiệp, cùng với các nguyên liệu sẵn có khác ở địa phương để sản xuất phân bón hữu cơ vi sinh là một trong những thách thức và cũng là giải pháp tiềm năng có thể làm giảm sự phụ thuộc vào phân bón hóa học. Từ đó giúp địa phương giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường, mang lại lợi ích kinh tế, góp phần sản xuất nông nghiệp bền vững trong tương lai”, TS Châu Thị Đa đề xuất.

Bà Lê Thị Cẩm Tiên, Chủ tịch HĐQT, Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Phân bón Bioway Hitech cho biết, hiện công ty đang áp dụng công nghệ hiện đại để xử lý phế phụ phẩm trong sản xuất nông nghiệp thành phân bón hữu cơ phục vụ lại cho cây trồng, vừa giúp cây xanh tốt, ít sâu bệnh, vừa hạn chế sử dụng phân, thuốc hóa học. Bên cạnh đó, phân bón hữu cơ vừa giúp bảo vệ môi trường và sức khỏe cộng đồng, vừa cho ra nông sản đạt yêu cầu an toàn thực phẩm cho người tiêu dùng.

Để có sản phẩm phân bón hữu cơ phục vụ nông dân, công ty còn đưa ra 5 chủng vi sinh để biến các sản phẩm thực vật bỏ đi thành phân hữu cơ có ích thông qua công nghệ Bioway ủ phân compost dạng kín, xử lý phế phụ phẩm hữu cơ thành phân bón hữu cơ qua quá trình lên men siêu tốc, nhiệt độ cao chỉ trong 6 giờ. Công nghệ ủ phân Bioway sẽ tạo ra các nhóm vi sinh vật cố định đạm, phân giải lân, phân giải cellulose, giúp tăng quang hợp, đối kháng…

Sản xuất phân bón hữu cơ tại Công ty Cổ phần Phân bón Bioway Hitech. Ảnh: Lê Hoàng Vũ.
Sản xuất phân bón hữu cơ tại Công ty Cổ phần Phân bón Bioway Hitech. Ảnh: Lê Hoàng Vũ.

Ông Trương Kiến Thọ, Phó Giám đốc Sở NN-PTNT An Giang cho biết, công nghệ hữu cơ và tuần hoàn là chiến lược quan trọng của nông nghiệp Việt Nam. Việc tận dụng phụ, phế phẩm nông, lâm, thủy sản được tỉnh ủng hộ thực hiện. UBND tỉnh An Giang đã giao Sở NN-PTNT phối hợp với Công ty Antesco và Bioway Hitech nghiên cứu xây dựng nhà máy chế biến phân bón hữu cơ trên địa bàn huyện Chợ Mới, trên cơ sở vùng nguyên liệu của Antesco.

Bên cạnh đó, ngành nông nghiệp An Giang phối hợp Sở KH-CN tỉnh triển khai đề tài nghiên cứu sử dụng phụ phế phẩm nông nghiệp, thủy sản trên nền tảng Bioway Hitech. Từ đó thử nghiệm, đề xuất đề tài cơ sở để đánh giá phân hữu cơ, thử nghiệm trên các sản phẩm chiến lược như rau màu, cây ăn trái.

“Để lan rộng sử dụng phân hữu cơ, ngành nông nghiệp đề nghị sử dụng nguồn vốn khoa học công nghệ trong xây dựng nông thôn mới triển khai các mô hình Bioway Hitech, trước mắt phối hợp với Antesco thử nghiệm sử dụng phụ phẩm đậu nành rau, cây bắp để làm phân hữu cơ. Đối với các địa phương khác có yêu cầu, cần lên danh mục, tập hợp lại để thực hiện, biến chất thải thành tiền, ít tốn chi phí xử lý, tạo ra sản phẩm phân hữu cơ phục vụ lại cho cây trồng”, ông Trương Kiến Thọ đề nghị.

Theo nongnghiepmoitruong.vn


Từ phụ phẩm dừa thành hàng xuất khẩu triệu đô

Than dừa được làm chủ yếu từ gáo dừa – một phụ phẩm của ngành dừa. Xuất khẩu than dừa nói chung đang ngày càng tăng, mang nhiều ngoại tệ về cho đất nước.

Than hoạt tính từ than gáo dừa của Trabaco. Ảnh: Sơn Trang.

Hàng xuất khẩu từ phụ phẩm

Tại Hội nghị Quốc tế về ngành dừa (CocoNext 2024) vừa diễn ra tại tỉnh Bến Tre, nhiều sản phẩm từ dừa của Việt Nam như nước dừa, sữa dừa, dầu dừa … đã thu hút được sự quan tâm của đông đảo đại biểu trong và ngoài nước. Trong đó, các sản phẩm làm từ phụ phẩm dừa (xơ dừa, gáo dừa …) của Công ty Cổ phần Trà Bắc (Trabaco) cũng đã gây được ấn tượng với nhiều người. Có thể kể đến các sản phẩm như: than hoạt tính từ than gáo dừa, than sạch BBQ từ than gáo dừa, thảm xơ dừa, xơ dừa…

Có thể nói, Trabaco là một trong những doanh nghiệp đi tiên phong về sản xuất các sản phẩm có giá trị từ gáo dừa, xơ dừa – những thứ vốn chỉ được coi là phụ phẩm. Từ năm 1997 đến nay, Trabaco đã tập trung vào sản xuất than hoạt tính từ than gáo dừa. Đến nay, công ty có 5 nhà máy với tổng công suất chế biến than hoạt tính từ than gáo dừa là 7.000 tấn/năm, bên cạnh đó là than sạch BBQ từ than gáo dừa với tổng công suất 1.800 tấn/năm, xơ dừa đóng kiện 16.000 tấn/năm, thảm xơ dừa dệt kim 1,5 triệu m2/năm.

Riêng về sản phẩm than hoạt tính từ than gáo dừa, Trabaco đang là một trong những nhà sản xuất hàng đầu Việt Nam và thế giới. Than hoạt tính từ than gáo dừa của công ty đã xuất khẩu tới hơn 30 quốc gia và vùng lãnh thổ như Mỹ, Canada, Anh, Pháp, Đức, Hà Lan, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Úc… Sản phẩm này hiện đang được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực như lọc nước, lọc không khí, thu hồi vàng …

Thúc đẩy kinh tế tuần hoàn

Là sản phẩm từ phụ phẩm dừa, than dừa nói chung đã trở thành một trong những mặt hàng thương mại chính của ngành dừa toàn cầu và giá trị xuất khẩu ngày càng tăng. Theo ông Nuwan Chinthaka, Phó Chủ tịch Hiệp hội Dừa quốc tế, hiện nay, giá trị xuất khẩu than gáo dừa trên thế giới vào khoảng 1,09 tỷ USD, đứng thứ 5 sau nước dừa, dầu dừa, than dừa Shisa, xơ dừa và mụn dừa.

Than BBQ từ than gáo dừa. Ảnh: Sơn Trang.

Tại Việt Nam, trong năm 2023, giá trị xuất khẩu than dừa là 88,5 triệu USD, than hoạt tính từ than gáo dừa là gần 33 triệu USD.

Ông Nuwan Chinthaka cho rằng, tiềm năng đóng góp của than dừa Shisa vào kim ngạch xuất khẩu chung của ngành dừa Việt Nam có thể lên tới gần 100 triệu USD. Trên thị trường xuất khẩu các sản phẩm từ dừa toàn cầu, kim ngạch xuất khẩu than dừa Shisa hiện là 5,05 tỷ USD, đứng thứ 3 sau nước dừa và dầu dừa.

Theo một số chuyên gia quốc tế, ngoài than dừa, than hoạt tính từ than gáo dừa, các doanh nghiệp Việt Nam cũng cần quan tâm đẩy mạnh sản xuất và xuất khẩu than dừa Shisa, bởi sản phẩm này đang có nhu cầu lớn trên thị trường thế giới khi được sử dụng ngày càng nhiều trong các quán ăn, gia đình.

Việc tận dụng vỏ dừa, gáo dừa để làm than dừa, than hoạt tính từ gáo dừa, than dừa Shisa… đang góp phần tạo ra nguồn năng lượng sinh học bền vững, thúc đẩy kinh tế tuần hoàn trong ngành dừa, qua đó nâng cao giá trị kinh tế của cây dừa và cải thiện đáng kể về sinh kế cho nông dân trồng dừa ở nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam.

Tuy nhiên, để đẩy mạnh sản xuất, xuất khẩu các sản phẩm từ dừa, trong đó có các sản phẩm từ phụ phẩm dừa, các tỉnh có tiềm năng phát triển cây dừa cần hình thành vùng dừa nguyên liệu. Theo ông Huỳnh Khắc Nhu, Tổng Giám đốc Trabaco, nguồn nguyên liệu dừa đang nằm rải rác tại nhiều tỉnh, thành ở ĐBSCL, khiến cho doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc thu gom. Nhiều thời điểm, công ty phải nhập khẩu dừa từ Indonesia để đảm bảo nguồn nguyên liệu cho sản xuất than hoạt tính từ gáo dừa và các sản phẩm khác.

Theo nongnghiepmoitruong.vn

Biến phế phẩm nông nghiệp thành thức ăn chăn nuôi

Tận dụng phế phẩm nông nghiệp, ông Nguyễn Văn Đức (SN 1961, xã Ea Tyh, huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk) đã chế biến thành thức ăn giàu dinh dưỡng cho gia súc.

Ông Đức hiện là Phó Giám đốc Công ty Cổ phần Xây dựng Quyết Thắng. Ngành nghề chính của công ty là xây dựng công trình kỹ thuật dân dụng, nhưng do làm ăn khó khăn nên năm 2004, công ty kinh doanh thêm nghề mua bán nông sản, song cũng không khá hơn là bao. Trong lúc công ty đang trên bờ phá sản, ông Đức (lúc ấy đang là nhân viên) đã tìm ra hướng đi mới là tái chế phế phẩm nông nghiệp.

Từng thành công trong việc tái sử dụng bã bia làm thức ăn cho heo vào năm 2006, ông Đức tiếp tục nghiên cứu bã mía. Ý tưởng này nhen nhóm trong lần ông xuống Long An (năm 2011) thấy người dân ủ bã mía làm thức ăn cho bò. Ngẫm địa phương mình có Nhà máy đường 333, mỗi năm thải ra một lượng lớn bã mía bỏ đi rất phí, ông về trình bày phương án thu mua, chế biến phế phẩm và được công ty đồng ý, nhưng ngặt nỗi không có vốn.

Cùng ban lãnh đạo gom tiền thử sức với lĩnh vực mới, ông Đức được giao giữ chức Phó Giám đốc phụ trách mọi hoạt động kinh doanh của công ty. Khởi đầu vốn ít, công ty chủ yếu thuê xe đi gom bã mía về phơi khô rồi bán cho đối tác. Năm 2014, ông Đức mạnh dạn đầu tư máy móc thực hiện công đoạn chế biến sâu: Bã mía sau khi mua về sẽ đổ đống để trong kho kín suốt 1 năm. Theo thời gian bã mía lên men tự nhiên, phân hủy cho mùi thơm, vị ngọt như mật; bã mía đã hoai mục được sấy khô, ép thành miếng vuông hoặc viên nén làm thức ăn cho gia súc.

Biến phế phẩm nông nghiệp thành thức ăn chăn nuôi

Ông Nguyễn Văn Đức giới thiệu sản phẩm viên nén được chế biến từ bã mía.

“Chỉ tính riêng 6 tháng đầu năm 2019, công ty đã mua 3 nghìn tấn cây bắp tương ứng số tiền hơn 3 tỷ đồng; 5 nghìn tấn bã mía tương đương hơn 2 tỷ đồng. Hiện các sản phẩm viên nén, phế phẩm lên men đang được nhiều doanh nghiệp chăn nuôi bò sữa, bò thịt đặt mua với số lượng lớn”.

Ông Nguyễn Văn Đức, Phó Giám đốc Công ty cổ phần Xây dựng Quyết Thắng thông tin thêm

Để tiết kiệm tối đa chi phí đầu tư, ông Đức tìm tòi nghiên cứu, mua vật liệu về chế tạo thành máy ép bã mía. Từ khi lấn sân sang lĩnh vực thu mua, chế biến phế phẩm nông sản sau thu hoạch, công ty đã thoát khỏi cảnh nợ nần, tạo công ăn việc làm cho nhiều lao động địa phương.

Có đối tác là các doanh nghiệp kinh doanh về chăn nuôi, buôn bán, chế biến thức ăn gia súc như Công ty Cổ phần chăn nuôi bò thịt – Bò sữa Cao Nguyên, Công ty Cổ phần chăn nuôi Gia Lai, Công ty TNHH Kim Nghĩa… nên ông Đức không quá lo lắng về đầu ra sản phẩm. Song song với việc tái chế bã mía, công ty còn thu mua cây bắp về cắt nhỏ, ủ chua bán cho các trang trại nuôi bò.

Thời gian đầu việc thu mua cây bắp gặp nhiều khó khăn bởi người dân đã quen với việc trồng bắp lấy hạt. Khi đặt vấn đề mua cây bắp còn tươi xanh và nguyên cả trái non thì không ít người hoài nghi, ông Đức phải giải thích cặn kẽ, nêu rõ địa chỉ nhà máy… người dân mới tin.

Kiên trì hơn 1 năm, công ty đã có nguồn nguyên liệu ổn định. Cây bắp còn nguyên trái sau khi mua về đưa vào máy cắt nhỏ từ 3 – 5 cm, đóng bao, hút chân không nhằm giữ độ tươi xanh và để được thời gian dài mà không bị hỏng mốc. Giá thu mua cây bắp tại ruộng dao động theo mùa. Mùa khô có giá 800 – 900 đồng/kg, còn mùa mưa là 500 – 600 đồng/kg. Ông Đức chia sẻ, chi phí đầu tư, chăm sóc bắp bán cây thấp, thời gian thu hoạch cũng được rút ngắn từ 15 – 20 ngày. Điều người dân thích nhất là họ không phải tốn nhân công thu hoạch và dọn rẫy vì người của công ty sẽ tự làm tất cả. Giá bán cả cây bắp luôn ổn định, lợi nhuận thu về cao hơn 500 nghìn đồng/sào so với trồng bắp lấy hạt.

Cây bắp tươi nguyên trái được cắt nhỏ, ủ men làm thức ăn cho bò.

Từ chỗ các phế phẩm nông nghiệp bị bỏ đi, hoặc bị đốt sau khi thu hoạch đã được Công ty cổ phần Xây dựng Quyết Thắng mua làm nguyên liệu sản xuất thức ăn chăn nuôi. Trung bình mỗi năm, công ty thu mua hàng nghìn tấn phế phẩm nông nghiệp. Việc tái chế phế phẩm nông nghiệp vừa giúp người dân tăng thêm thu nhập, giảm ô nhiễm môi trường…

Nguồn: Báo Đắk Lắk

Đốt rơm, rạ sau thu hoạch: Những mô hình xử lý hiệu quả

Tình trạng đốt rơm rạ tự phát mỗi khi vào mùa vụ thu hoạch sẽ làm trầm trọng thêm tình trạng ô nhiễm môi trường, nhất là ô nhiễm không khí và ảnh hưởng đến sức khỏe của người dân. Để ngăn chặn và kiểm soát tình trạng này, cần có những giải pháp thay thế hiệu quả, bền vững.

Trong những lúc cao điểm của mùa gặt tại các tỉnh miền Bắc, phần lớn rơm, rạ sau thu hoạch được bà con xử lý bằng cách đốt, có nơi lên đến 90%. Khắp các ngả đường từ làng quê đến thành phố, cứ vào khoảng 4 – 5 giờ chiều lại được bao trùm bằng khói bụi do người dân tranh thủ đốt rơm rạ sau vụ thu hoạch. Đặc biệt, thời điểm này là đỉnh điểm của nắng nóng oi bức ở miền Bắc hoà quện cùng khói bụi từ từ đốt rơm rạ đã khiến cho không khí càng ngột ngạt hơn.

Những nỗ lực từ chính quyền

Để giải quyết bài toán ô nhiễm môi trường không khí, gây mất an toàn giao thông do việc đốt rơm rạ, phụ phẩm nông nghiệp sau thu hoạch, hàng năm các địa phương đều ban hành công văn về việc hạn chế tình trạng đốt rơm rạ sau thu hoạch.

Điển hình như ở Hà Nội, để kiểm soát các hoạt động này, năm 2024, TP. Hà Nội cũng đã có công văn số 79/UBND-TNMT về việc tăng cường các biện pháp quản lý nhà nước đối với hoạt động đốt rơm rạ, các phụ phẩm cây trồng trên địa bàn Hà Nội.

xu-ly-rom-ra-3-.jpg
Nhằm giảm thiểu tình trạng đốt rơm rạ, nhiều địa phương đã xây dựng và thực hiện mô hình xử lý rơm rạ thành phân hữu cơ.

Công văn nêu rõ, Sở Tài nguyên và Môi trường Hà Nội tiếp tục giám sát, tổng hợp kết quả thực hiện Chỉ thị số 15/CT-UBND ngày 18/9/2020 của UBND thành phố về việc tăng cường các biện pháp quản lý nhà nước đối với hoạt động đốt rơm rạ, các phụ phẩm cây trồng và chất thải khác không đúng quy định nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường thành phố.

Tại tỉnh Thừa Thiên – Huế, ngày 22/4/2024, UBND Thành phố Huế đã ban hành Công văn số 3501/UBND-NN về việc hạn chế tình trạng đốt rơm rạ sau thu hoạch. Theo đó, để khẩn trương chỉ đạo, giải quyết xử lý dứt điểm tình trạng đốt rơm, rạ sau thu hoạch, UBND Thành phố chỉ đạo UBND 36 phường, xã tiếp tục tăng cường thực hiện các giải pháp hạn chế đốt rơm rạ sau thu hoạch lúa trên địa bàn theo tinh thần Chỉ thị số 11/CT-UBND ngày 17/4/2020 của Chủ tịch UBND tỉnh. Đồng thời, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến về tác hại đốt rơm rạ trên đồng ruộng, vận động người dân ký cam kết không đốt rơm rạ sau thu hoạch theo nội dung Công văn số 3305/UBND-NN ngày 15/4/2024 của UBND Thành phố; thường xuyên kiểm tra, xử lý các trường hợp đốt rơm rạ trên đồng ruộng, trên đường giao thông, gây cản trở và làm mất an toàn giao thông trên địa bàn quản lý.

Chủ tịch UBND tỉnh đề nghị 36 phường, xã chịu trách nhiệm trước Chủ tịch UBND Thành phố trong việc để người dân đốt rơm rạ sau thu hoạch. Phòng Văn hóa và Thông tin phối hợp Sở Thông tin và Truyền thông thiết lập đường dây nóng và triển khai ứng dụng Hue-S để tiếp nhận phản ánh của các cá nhân, tổ chức đốt rơm rạ trên đồng ruộng để kịp thời có biện pháp xử lý. UBND Thành phố giao Phòng Kinh tế thành phố hướng dẫn UBND 36 phường, xã, các HTX nông nghiệp áp dụng cơ giới hóa (máy cuộn rơm…) trong thu gom vận chuyển rơm, rạ; khuyến cáo nông dân ứng dụng các chế phẩm sinh học xử lý rơm rạ sau thu hoạch thành phân bón hữu cơ phục vụ nông nghiệp, góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường.

Tại Nam Định, ngày 8/5/2024, UBND tỉnh cũng có văn bản gửi các sở, ngành TN-MT, NN và PTNT, GT-VT, KH-CN, Công an tỉnh, Ủy ban MTTQ tỉnh và các tổ chức đoàn thể, UBND các huyện, thành phố trong tỉnh, về việc tăng cường thực hiện các biện pháp giảm thiểu và xử lý việc đốt rơm rạ, rác thải không đúng quy định.

Đặc biệt, tại tỉnh Vĩnh Phúc, UBND tỉnh đã có chính sách hỗ trợ chế phẩm vi sinh xử lý rơm rạ trên cây lúa giai đoạn 2022 – 2024. Cụ thể, năm 2024, tỉnh hỗ trợ hơn 14 tỉ đồng để mua chế phẩm vi sinh xử lý rơm rạ trên đồng ruộng sau khi thu hoạch lúa vụ xuân chuyển sang vụ mùa, giao cho Trung tâm Khuyến nông làm đơn vị đầu mối thực hiện, cấp phát 140.000kg chế phẩm xử lý cho diện tích 5.000ha.

Những huyện trọng điểm về lúa như Yên Lạc, Vĩnh Tường được hỗ trợ 1.000ha; những huyện có diện tích lúa nhỏ hơn như: Bình Xuyên, Sông Lô, Tam Đảo, Tam Dương, Lập Thạch được hỗ trợ từ 500-750ha; những thành phố như Phúc Yên, Vĩnh Yên được hỗ trợ 100ha. Quy trình kỹ thuật để xử lý rơm rạ bằng chế phẩm vi sinh cũng được Trung tâm phổ biến cho các địa phương và nông dân.

Cụ thể, sau khi thu hoạch lúa, nông dân cho nước vào ruộng giữ ở mức 2-3 cm, bón vôi, dùng máy phay qua một lần cho dập gốc rạ, sau đó dùng chế phẩm vi sinh rải đều trên mặt với số lượng 1 kg/sào, nâng mực nước thêm, giữ ở mức 7-10 cm trong vòng 10-15 ngày rồi bừa, bón lót, gieo cấy.

xu-ly-rom-ra-4-.jpg
Việc xử lý vi sinh phân hủy rơm rạ giúp tiết kiệm phân bón, cải tạo đất, giảm ô nhiễm môi trường do đốt rơm rạ

Việc xử lý vi sinh phân hủy rơm rạ không chỉ giúp tiết kiệm phân bón, cải tạo đất, giảm ô nhiễm môi trường do đốt rơm rạ mà còn giúp cây lúa phát triển nhanh, bộ rễ khỏe, đẻ nhánh tập trung, không bị hiện tượng nghẹt rễ, vàng lá sinh lý, giảm bớt việc sử dụng thuốc BVTV hóa học.

Tại Khoản 1 Điều 41 của Nghị định số 45/2022/NĐ-CP của Chính phủ quy định: Phạt tiền từ 2.500.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với hành vi đốt ngoài trời phụ phẩm từ cây trồng cạnh khu vực dân cư, sân bay, các tuyến giao thông chính.

ts-hoang-duong-tung.jpg
TS. Hoàng Dương Tùng – Chủ tịch Mạng lưới không khí sạch Việt Nam, nguyên Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Môi trường.

Chia sẻ về vấn đề này, TS. Hoàng Dương Tùng, Chủ tịch Mạng lưới Không khí sạch Việt Nam, nguyên Phó Tổng Cục trưởng Tổng cục Môi trường (Bộ TN&MT) cho biết: “Đốt rơm, rạ sau thu hoạch gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Khi đốt rơm rạ sẽ gây ra bụi mịn PM2.5, khói và các chất độc khác đi kèm. Việc di chuyển của khối ô nhiễm, bụi mịn sau khi đốt rơm rạ lan tỏa ra các vùng xung quanh rất rõ rệt. Tình trạng này không chỉ diễn ra ở Việt Nam mà nó còn diễn ra ở rất nhiều nước khácTrước kia, bà con còn lấy rơm rạ cho trâu bò ăn hay để đun nấu. Tuy nhiên, hiện nay kinh tế phát triển, việc bà con lấy rơm rạ về đun nấu đã không còn nhiều. Chính vì vậy, tình trạng đốt rơm rạ ngày càng phổ biến hơn. Để giải quyết tình trạng này, nhiều địa phương cũng đã áp dụng các biện pháp như: Mua chế phẩm sinh học để ủ phân vi sinh, trồng nấm, dùng trong trong việc trồng cây thanh long,…. Tuy nhiên, những biện pháp này không được bền vững mà mới chỉ được áp dụng lẻ tẻ”.

Cũng theo ông Tùng, các giải pháp đưa ra cần phù hợp với từng vùng, từng địa phương và cần có sự vào cuộc không chỉ của cơ quan quản lý về môi trường, mà cả các ban ngành quản lý về kinh tế, nông nghiệp, nhà doanh nghiệp. Không chỉ dừng lại ở việc tuyên truyền, vận động.

Người nông dân thu nhập từ thu hoạch lúa gạo thấp, vì vậy rất cần có sự hỗ trợ của nhà nước, nhà khoa học, nhà doanh nghiệp. Nghiên cứu áp dụng công nghệ số vào để có thể vừa giải quyết được vấn đề này mà vừa hợp với lòng dân. Nếu chỉ áp dụng giải pháp hành chính, xử phạt, xử lý… thì không căn cơ, khó xử lý dứt điểm đôi khi sẽ gây ra những khó dễ nhất định cho cả người dân và người đi xử lý”, TS Tùng nhấn mạnh.

Cần sự thay đổi tư duy của các cơ quan chức năng, nhà quản lý môi trường về vai trò của rơm rạ. Rơm rạ là phần phụ phẩm của hoạt động nông nghiệp nhưng không phải là phế thải mà cần coi đó là nguồn tài nguyên. Nếu biết cách sử dụng hiệu quả rơm rạ, vừa có thể biến rơm rạ thành nguồn nguyên liệu mới như làm phân bón hữu cơ, phân bón nhả chậm, sử dụng làm thức ăn chăn nuôi hay trồng nấm…Khi đó, nó sẽ trở thành một yếu tố quan trọng của vòng kinh tế tuần hoàn, mang lại sự phát triển bền vững cho ngành nông nghiệp nước nhà.

“Chỉ khi nhận thức được vai trò, ý nghĩa của rơm rạ, chính quyền địa phương mới có thể dành sự quan tâm, tập trung nguồn lực cho các biện pháp xử lý rơm rạ thay thế bền vững. Ngoài việc tập huấn, hướng dẫn bà con về các kỹ thuật xử lý rơm rạ phù hợp với trình độ, nhận thức của người nông dân, các địa phương cũng cần thành lập Quỹ hỗ trợ kinh phí mua các chế phẩm thực hiện các giải pháp xử lý rơm rạ mới, để bà con yên tâm thực hiện. Ngoài ra, việc tạo ra các đầu mối thu mua các sản phẩm đầu ra từ hoạt động trồng nấm, phân bón sản xuất từ rơm rạ, cũng là cách tạo nguồn thu nhập ổn định, cho bà con thấy được lợi ích so sánh so với hoạt động đốt tự phát
”, TS Tùng cho hay.

Còn theo PGS. TS Bùi Thị An – Đại biểu quốc hội khóa XIII, Viện trưởng Viện Tài nguyên Môi trường và Phát triển cộng đồng: “Để giải quyết tình trạng này, Hội Nông dân hay Hội Phụ nữ cũng nên có cách hướng dẫn cho bà con cách xử lý dễ nhất sau thu hoạch. Đặc biệt nên có cơ chế khuyến cáo và có sự hỗ trợ cho bà con trong việc xử lý”.

Những mô hình xử lý hiệu quả

Thay vì đốt, nhiều nông dân đã và đang xử lý rơm rạ bằng các giải pháp thân thiện với môi trường và gia tăng giá trị kinh tế cho rơm. Các giải pháp đang được áp dụng nhiều ở các địa phương hiện nay có thể kể đến như: Sử dụng chế phẩm vi sinh học để xử lý tại ruộng hoặc làm phân bón, hay thu cuốn rơm mang về để trồng nấm, làm thức ăn cho gia súc… Đó là các giải pháp thực hiện có hiệu quả.

Các hoạt động bao gồm: đào tạo nhóm nông dân nòng cốt; triển khai truyền thông thông qua các kênh trực tuyến hội nhóm và trực tiếp; hướng dẫn kỹ thuật và thực hành các giải pháp xử lý; hỗ trợ ngân sách cho các địa phương, hợp tác xã, nông dân tiếp cận các giải pháp như chế phẩm sinh học hay thu cuốn rơm… Từ đây, nhiều mô hình nhỏ, sáng kiến hay của các địa phương đã được khuyến khích triển khai.

Mô hình xử lý rơm rạ thành phân bón hữu cơ

Nhằm giảm thiểu tình trạng đốt rơm rạ nhiều địa phương đã xây dựng và thực hiện mô hình xử lý rơm rạ thành phân hữu cơ. Với thời gian ủ ngắn (45 ngày), từ khoảng 5 tạ rơm rạ cộng với phân gia súc, gia cầm… có thể làm thành 1 tấn phân hữu cơ phục vụ cho sản xuất cây trồng và hoa màu. Giải pháp này dễ thực hiện, giá thành rẻ, người dân cũng có thể áp dụng để xử lý các phụ phẩm nông nghiêp khác như thân cây chuối, ngô, đu đủ, hoa,… chuyển thành phân hữu cơ.

xu-ly-rom-ra-2-.jpg
Mô hình xử lý rơm rạ thành phân bón hữu cơ

Mô hình xử lý rơm rạ bằng việc rắc chế phẩm sinh học

Nhiều địa phương đã sử dụng có hiệu quả mô hình việc xử lý rơm rạ bằng chế phẩm sinh học.

Việc này tạo điều kiện để các phụ phẩm nông nghiệp được phân hủy bởi các vi sinh vật và giun có trong đất dưới sự hỗ trợ của chế phẩm vi sinh vật, biến thành chất điều hòa đất và phân hữu cơ tại chỗ. Đất sẽ trở nên mềm, màu mỡ, giàu chất dinh dưỡng và sinh khối, tăng năng suất cho các vụ mùa tiếp theo.

Theo bà con nông dân, việc xử lý rơm, rạ bằng chế phẩm sinh học đem lại lợi ích kép cho nông dân, vừa bảo vệ môi trường vừa tiết kiệm chi phí sản xuất nhờ nguồn phân hữu cơ. So với những nơi đốt rơm rạ tại ruộng, ruộng được xử lý bằng chế phẩm sinh học tiết kiệm được 2 lần phun thuốc trừ bệnh vàng lá và nghẹt rễ sinh lý; giảm được 30% lượng phân lân cho bón lót và 15% lượng N-P-K bón thúc lần đầu. Bên cạnh đó, việc xử lý rơm rạ sau thu hoạch bằng chế phẩm sinh học khá đơn giản, chỉ cần trộn đều chế phẩm với cát, đất, hoặc phân bón, dải đều khắp ruộng. Sau từ 13 đến 15 ngày, rơm và gốc rạ tự phân hủy, ngấu trong đất.

Mô hình chế biến thức ăn cho trâu bò, gia súc

Để tận dụng nguồn rơm lúa sau thu hoạch, có những địa phương đã triển khai mô hình sử dụng máy cuốn rơm và sử dụng rơm cuộn để chế biến làm thức ăn cho trâu bò, gia súc.

Phương pháp chế biến rơm ủ u-rê đơn giản và dễ thực hiện. Hơn nữa, rơm rạ sau khi chế biến có thể cho bò ăn thoải mái, không sợ bị ngộ độc. Bò được ăn loại rơm này lớn nhanh, béo khoẻ, ngay cả trong vụ đông xuân thiếu cỏ tươi.

xu-ly-rom-ra-1-.jpg
Có những địa phương đã triển khai mô hình sử dụng máy cuốn rơm và sử dụng rơm cuộn

Mô hình tận dụng rơm rạ trồng nấm

Hay có những địa phương tận dụng rơm rạ để trồng nấm, nhiều hộ nông dân đã có thêm công việc mới.

Đặc biệt, giá thể sau khi thu hoạch nấm có thể được sử dụng để bón trực tiếp cho cây ăn quả, hoa hồng… và không gây ô nhiễm môi trường.

Mô hình xử lý rơm rạ bằng thu cuốn rơm để sử dụng

Nhận thấy một số lợi ích khi mang rơm rạ ra khỏi đồng ruộng, nông dân nhiều nơi đã chủ động thu gom rơm thành các cuốn rơm khô, gọn và nhẹ bằng cách thủ công hoặc sử dụng máy cuốn. Tuy nhiên, máy cuốn rơm chỉ hoạt động hiệu quả tại các khu vực đồng ruộng khô, chân ruộng cao. Trước khi áp dụng máy thu cuốn, cần lưu ý cắt sát gốc rạ khi gặt.

Khi thu cuốn rơm, phần lớn rơm bên trên sẽ được thu gom, phần gốc rạ sẽ còn lại bên dưới và nằm trong đất. Điều đó cũng khắc phục được việc để lại quá nhiều rơm trên ruộng làm cho đất bị dư thừa chất hữu cơ dễ gây sâu bệnh cho cây trồng vụ sau. Với gốc rạ còn lại trên đồng, các đơn vị khuyến nông khuyến khích sử dụng thêm chế phẩm vi sinh học để xử lý làm phân bón hữu cơ. Việc này vừa tránh làm chua đất, vừa gia tăng chất hữu cơ cho cây trồng/vụ sau đó. Đối với rơm thu được, đây sẽ là đầu vào cho các hoạt động sản xuất khác như trồng nấm, làm thức ăn gia xúc, làm đệm lót sinh học, làm các sản phẩm thủ công, làm nhiên liệu sinh học.

Mỗi nhóm giải pháp sẽ sử dụng các công nghệ khác nhau phù hợp với điều kiện cụ thể của từng địa phương, từ hạn chế can thiệp, sử dụng chế phẩm sinh học hay các máy móc nông nghiệp… Áp dụng các kỹ thuật nói trên sẽ tăng giá trị của rơm rạ. Các giải pháp này có thể áp dụng đa dạng từ quy mô lớn cho doanh nghiệp, hợp tác xã cho đến cả các nông hộ nhỏ lẻ.

Để nâng cao hiệu quả sử dụng rơm rạ, Nhà nước cần hỗ trợ các nghiên cứu đẩy nhanh việc đưa máy móc phục vụ công tác thu gom rơm ở miền Bắc. Cụ thể, cần đưa vào sử dụng các loại máy cuốn rơm quy mô nhỏ, vận chuyển linh hoạt, phù hợp với điều kiện đồng ruộng miền Bắc; Nghiên cứu máy cắt gốc rạ kết hợp với máy cuốn rơm để tăng tỷ lệ thu gom rơm rạ.

Ngoài ra, Nhà nước cần hỗ trợ nghiên cứu lợi nhuận của các khâu trong chuỗi giá trị thu gom, sản xuất và sử dụng các sản phẩm từ rơm tại từng địa phương. Căn cứ vào kết quả nghiên cứu sẽ đề xuất chính sách nhằm hỗ trợ hình thành chuỗi giá trị thu gom, sản xuất và tiêu thụ các sản phẩm từ rơm tại các địa bàn cụ thể trên miền Bắc và miền Trung

Hỗ trợ, hoàn thiện các công nghệ sử dụng rơm để sản xuất làm thức ăn chăn nuôi, phân bón hữu cơ, trồng nấm, làm viên năng lượng… nhằm đa dạng hóa các sản phẩm từ rơm, giúp ổn định thị trường và tăng giá trị lợi nhuận.

Đối với gốc rạ, việc thu gom rất khó khăn và chi phí cao. Do vậy, cần định hướng nghiên cứu để giúp người dân xử lý gốc rạ tại ruộng để làm phân bón hữu cơ, hạn chế hiện tượng đốt đồng. Nhà nước cần hỗ trợ các nghiên cứu sử dụng các chế phẩm sinh học nhằm phân hủy nhanh gốc rạ ngoài đồng để làm phân bón hữu cơ. Việc áp dụng cơ giới hóa nhằm tăng cường tỷ lệ thu gom rơm giúp giảm khối lượng gốc rạ cần phải xử lý trên đồng ruộng, qua đó giảm những tác hại về sâu bệnh, ngộ độc hữu cơ cho cây trồng cũng như phát thải khí nhà kính do để lại nhiều gốc rạ trên đồng ruộng.

Theo moitruong.net.vn

Biến phụ phẩm thành tài nguyên: Hành trình xanh của nông nghiệp

Từ rơm rạ, vỏ cà phê đến bã mía, phụ phẩm nông nghiệp đang được tái sinh thành tài nguyên mới, mở ra hành trình xanh hóa và giảm phát thải cho ngành trồng trọt.

Mùa gặt ở Đồng bằng sông Hồng, khói rơm rạ không còn phủ trắng những con đê như vài năm trước. Thay vào đó, các xe thu gom nối đuôi nhau chở rơm đến nhà máy sản xuất phân hữu cơ ở Ninh Bình, Hưng Yên, Hải Phòng hay tới những trang trại chăn nuôi bò sữa.

Ở Đồng bằng sông Cửu Long, vỏ trấu và bã mía được ép thành viên nén sinh học xuất khẩu sang Nhật Bản. Hàng chục năm trước, những thứ ấy bị xem là rác thải nông nghiệp nhưng hôm nay chúng đã trở thành nguồn tài nguyên mới của nông nghiệp tuần hoàn.

Người dân phối trộn rơm rạ cùng các loại phân tạo thành phân bón hữu cơ. Ảnh: Bảo Thắng.
Người dân phối trộn rơm rạ cùng các loại phân tạo thành phân bón hữu cơ. Ảnh: Bảo Thắng.

Khái niệm tuần hoàn vốn không xa lạ với nông dân Việt Nam. Trong quá khứ, người ta vẫn quen tận dụng phụ phẩm làm chất đốt, thức ăn chăn nuôi hoặc bón lại cho ruộng. Nhưng trong thời đại phát thải thấp, nông nghiệp tuần hoàn đã được nâng lên một tầm mới: một mô hình sản xuất khép kín, không bỏ phí tài nguyên và không tạo thêm gánh nặng cho môi trường.

Điều này càng trở nên cấp bách khi nông nghiệp Việt Nam mỗi năm thải ra hàng trăm triệu tấn phụ phẩm, theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường. Riêng trồng trọt tạo ra khoảng 160 triệu tấn phụ phẩm (rơm rạ, thân ngô, vỏ cà phê, bã mía, vỏ điều, phân gia súc…), tương đương 20% tổng phát thải khí metan của quốc gia.

Những năm gần đây, phụ phẩm, chất thải trong nông nghiệp đã biến thành “vàng” khi được tận dụng làm phân hữu cơ, vật liệu sinh học, nhiên liệu tái tạo và nguyên liệu cho công nghiệp chế biến. Tại Ninh Bình, nhiều mô hình thu gom rơm rạ sau thu hoạch do Trung tâm Khuyến nông tỉnh này triển khai đã giúp giảm 80% hiện tượng đốt đồng, mỗi hecta thu về 1,5 – 2 triệu đồng từ bán rơm.

Niềm vui càng nhân lên từ mô hình do Viện Nghiên cứu Lúa gạo Quốc tế (IRRI) phối hợp với Hợp tác xã Sản xuất Kinh doanh và Dịch vụ nông nghiệp Nam Cường (Ninh Bình) thực hiện từ giữa năm 2024. Theo đó, người dân được tập huấn xử lý rơm rạ làm phân hữu cơ theo công thức rơm trộn tỷ lệ 60% với phân bò 30% và đất 10, phun men vi sinh, ủ khoảng 45 ngày với độ ẩm 50 – 60 % và nhiệt độ khoảng 50 – 70 °C.

Kết hợp máy trộn tự hành có công suất 138 – 300 m³/lần, thời gian ủ rút xuống bằng một nửa phương pháp truyền thống. Ủ tốt sẽ đạt tỷ lệ C/N khoảng 13 – 14,5 và pH 6,8 – 7,2, sau đó sản phẩm được ép viên hoặc đóng gói sử dụng trực tiếp trên đồng ruộng.

Những cách tận dụng phế phụ phẩm như vậy xuất hiện ngày một nhiều. Tại Sóc Trăng, mô hình “3 lợi ích” – không đốt rơm, sản xuất phân hữu cơ và trồng rau màu luân canh giúp giảm phát thải hơn 5 tấn CO₂ mỗi hecta. Tại Đắk Lắk, các hợp tác xã cà phê đầu tư dây chuyền ủ vỏ quả và bã cà phê thành phân vi sinh, vừa tiết kiệm chi phí, vừa cải tạo đất. Những chu trình khép kín như vậy đang lan rộng trên khắp vùng trồng trọt, từ đồng bằng đến trung du, từ cây lúa đến cây công nghiệp.

Máy phối trộn rơm rạ do IRRI tài trợ tại Ninh Bình. Ảnh: Bảo Thắng.
Máy phối trộn rơm rạ do IRRI tài trợ tại Ninh Bình. Ảnh: Bảo Thắng.

Theo Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, nếu 50% phụ phẩm nông nghiệp được xử lý và tái sử dụng hiệu quả, Việt Nam có thể giảm khoảng 40 triệu tấn CO₂ mỗi năm. Đây là một trong những biện pháp quan trọng để thực hiện cam kết Net Zero 2050. Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã đưa nông nghiệp tuần hoàn vào chiến lược tăng trưởng xanh với mục tiêu đến năm 2030 ít nhất 30% phụ phẩm nông nghiệp được thu gom và tái chế, trong đó 20% dùng làm phân hữu cơ, 10% dùng làm nhiên liệu sinh học.

Trên thực tế, nhiều địa phương đã chứng minh điều đó là khả thi. Ở Đồng Nai, các trang trại bò sữa của Vinamilk và TH True Milk áp dụng mô hình “từ đồng cỏ đến ly sữa”. Cỏ được trồng bằng phân hữu cơ ủ từ chất thải bò, chất thải lỏng được xử lý thành biogas, phần bã còn lại làm phân cho cây trồng. Mô hình này giúp tiết kiệm 25% chi phí đầu vào, đồng thời giảm phát thải metan.

Ở Bắc Ninh, nhiều hợp tác xã đã tận dụng phụ phẩm chăn nuôi kết hợp trồng cây ăn quả, hình thành chuỗi “3F tuần hoàn” (Feed – Farm – Fruit). Ở An Giang và Tây Ninh, chương trình “Không đốt rơm rạ – giữ khí trời trong lành” được người dân hưởng ứng mạnh khi họ nhận thấy đốt rơm vừa lãng phí, vừa gây ngạt bụi cho chính mình.

Quan trọng hơn những con số là sự thay đổi trong tư duy. Nông dân giờ không còn xem phụ phẩm là thứ bỏ đi mà là phần nối dài của vụ mùa. Khi rơm rạ được thu gom để sản xuất phân, người ta nói “cánh đồng sống thêm một vòng”. Khi vỏ cà phê, bã mía trở thành nguyên liệu công nghiệp, người ta nói “đất đã học cách tái sinh”. Trong mỗi quy trình khép kín ấy, không chỉ có kinh tế mà còn là đạo lý của nghề nông – trả lại cho đất những gì mình lấy đi.

Để thúc đẩy quá trình này, các viện nghiên cứu đang phát triển công nghệ ủ nhanh, lên men vi sinh và sản xuất phân bón sinh học từ phụ phẩm. Viện Môi trường Nông nghiệp đang phối hợp với JICA và FAO thử nghiệm quy trình sản xuất than sinh học từ rơm rạ, giúp tăng khả năng giữ ẩm và hấp thu dinh dưỡng của đất. Bộ Nông nghiệp và Môi trường cũng khuyến khích hình thành các cụm “trung tâm chế biến phụ phẩm nông nghiệp” ở từng vùng chuyên canh, nơi doanh nghiệp, hợp tác xã và nông dân cùng tham gia. Mục tiêu không chỉ là giảm phát thải mà còn tạo thêm ngành nghề mới, việc làm mới ở nông thôn.

Thách thức vẫn còn, đặc biệt ở khâu thu gom và đầu tư hạ tầng xử lý. Phụ phẩm trồng trọt thường phân tán, khối lượng lớn nhưng giá trị thấp, khó vận chuyển xa. Cần cơ chế khuyến khích tín chỉ carbon, ưu đãi thuế cho doanh nghiệp chế biến sinh khối và hướng dẫn kỹ thuật cho nông dân. Những thành công ban đầu cho thấy hướng đi này rất khả quan. 

Từ ruộng đồng đến nhà máy, từ rơm rạ đến viên nén sinh học, hành trình biến phụ phẩm thành tài nguyên đang viết tiếp câu chuyện bền vững của nông nghiệp Việt Nam. Đó cũng là cách con người thay đổi mối quan hệ với tự nhiên, tôn trọng, tái tạo và cùng tồn tại. Sau 80 năm, ngành trồng trọt và bảo vệ thực vật không chỉ biết cách làm ra của cải mà còn biết giữ gìn sức khỏe của đất, của cây và của môi trường.

Theo nongnghiepmoitruong.vn/