Khởi nghiệp với phế phẩm nông nghiệp

Với nhà máy nằm ở Bến Tre và xưởng sản xuất tại Lâm Đồng, Ficoco đã cho ra đời nhiều dòng sản phẩm nguyên liệu chính là giá thể xơ dừa, được nghiên cứu, phối trộn để cho ra những loại giá thể trộn sẵn tối ưu cho từng loại cây trồng khác nhau.

Khởi nghiệp với phế phẩm nông nghiệp - Ảnh 1.

Tôi chụp cùng các đối tác trong một hội chợ quốc tế

Chọn phế phẩm để đồng hành cùng giấc mơ khởi nghiệp

Sau khi tốt nghiệp đại học, tôi sinh sống và làm việc tại TP.HCM. Do đặc thù công việc cũ, tôi may mắn có cơ hội đi tham quan thực địa tại nhiều quốc gia có nền nông nghiệp phát triển (Israel, Thái Lan, Malaysia, Nhật Bản…), từ đó có những trăn trở về cách làm nông nghiệp tại quê nhà.

Bắt đầu năm 2018, tôi quyết định nghỉ công việc cũ và thành lập công ty, với sứ mệnh giúp người nông dân Việt Nam tiếp cận được các giải pháp, kỹ thuật sản xuất tiên tiến, từ đó tăng được giá trị, an toàn cho nông sản, cải thiện kinh tế cho bà con.

Qua trải nghiệm công tác ở nước ngoài, tôi phát hiện thấy có một mỏ vàng ẩn mình có sẵn ở Việt Nam, đó là vỏ dừa.

Dừa là loại cây đặc sản của các quốc gia nhiệt đới, tưởng chừng lớp vỏ bên ngoài quả dừa là vô tích sự, nhưng đây là một trong những loại nguyên liệu được sử dụng để làm giá thể trồng trọt phổ biến nhất trên thế giới.

Các thương nhân người Hà Lan, Israel thường đến các quốc gia nhiệt đới (Ấn Độ, Sri Lanka, Indonesia, Việt Nam…) đặt nhà máy, thu mua nguyên liệu, chế biến thành thành phẩm, sau đó xuất khẩu đi khắp thế giới.

Khởi nghiệp với phế phẩm nông nghiệp - Ảnh 2.

Tôi và đồng đội trong những ngày nghiên cứu sản phẩm tại nhà máy xơ dừa

Tuy nhiên, để có thể đưa từ vỏ dừa này thành nguyên liệu giá thể có thể trồng cây, thì buộc phải nghiền vỏ thành mụn và xơ dừa, đưa qua quy trình xử lý để loại bỏ chất chát (tannin), các loại muối (Na, K).

Thực tế tại Việt Nam, người nông dân đã tự mua về và tự xử lý trước khi đưa vào mùa vụ. Tuy nhiên, không phải ai cũng có kỹ thuật xử lý để đạt tiêu chuẩn phục vụ trồng trọt, nhất là đối với những người nông dân mới bắt đầu canh tác.

Nên đôi khi cây trồng sẽ bị ngộ độc bởi chất chát và các loại muối còn lại trong loại nguyên liệu này nếu chưa được xử lý kỹ.

Từ lúc phát hiện cơ hội này không chỉ là thị trường trong nước và quốc tế, tôi đã quyết định bắt tay ngay vào nghiên cứu quy trình xử lý theo kỹ thuật của Hà Lan, và đầu tư sản xuất ở quy mô công nghiệp để tiêu chuẩn hóa sản phẩm và tối ưu hóa giá thành.

Từ đó, cung cấp sản phẩm mụn dừa đã xử lý với thương hiệu Ficoco, cho người nông dân theo đúng tiêu chuẩn chất lượng quốc tế và giá thành cạnh tranh.

Thời gian đầu, sản phẩm cũng vấp phải cái nhìn e dè của khách hàng. Vì là người tiên phong ra mắt dòng sản phẩm đã xử lý sẵn qua hai bước, họ vẫn nghi ngờ, nghĩ sản phẩm xử lý chưa đạt. Ban đầu phải thuyết phục từng nông dân sử dụng thử.

Khi thấy sản phẩm chất lượng, đỡ mất thời gian tự xử lý, họ đã tiếp tục ủng hộ, và giới thiệu thêm nhiều khách hàng.

Cho đến nay, sau gần 3 năm ra mắt sản phẩm, đã có hơn 500 nông dân sử dụng sản phẩm xơ dừa xử lý theo công nghệ hai bước, và sản phẩm cũng đã xuất khẩu đi thị trường Malaysia.

Khởi nghiệp với phế phẩm nông nghiệp - Ảnh 3.

Vườn dưa lưới trồng trên giá thể xơ dừa Ficoco

Trong nguy luôn có cơ…

Năm 2020, trong giai đoạn bị ảnh hưởng bởi đại dịch, giống như rất nhiều doanh nghiệp non trẻ khác, Ficoco cũng gặp khó khăn vì hoạt động kinh doanh gần như đứng yên, nhưng các khoản chi phí đều phải trả mỗi tháng và đảm bảo thu nhập cho nhân viên.

Nhưng trong giai đoạn giãn cách xã hội, tôi nhận ra một cơ hội, đó là có rất nhiều người có nhu cầu trồng cây, trồng rau ở nhà. Từ đó, tôi và các kỹ sư của mình cho ra đời các sản phẩm giá thể chất lượng, tiện lợi từ xơ dừa cho khách hàng ở thành phố có thể trồng nhiều loại cây khác nhau.

Nhờ đó, Ficoco trở mình “vượt” bão, cung cấp rất nhiều sản phẩm không chỉ giúp cho các khách hàng có thể trồng rau tại nhà, mà thành nhu cầu trang trí nhà cửa sau khi kết thúc dịch bệnh, với các sản phẩm chuyên dụng trồng hoa, cây kiểng, xương rồng, sen đá,…

Khởi nghiệp với phế phẩm nông nghiệp - Ảnh 4.

Những sản phẩm lần lượt ra đời trong giai đoạn giãn cách xã hội

Toàn bộ nguyên liệu đầu vào được Ficoco kiểm định chặt chẽ về chất lượng, chúng tôi ưu tiên sử dụng các phế phẩm như xơ dừa, vỏ dừa cắt, tự ủ phân hữu cơ compost để đảm bảo sản phẩm an toàn cho người sử dụng và cây trồng, và tận dụng được nguồn phế phẩm nông nghiệp có sẵn, giảm tác hại rác thải cho môi trường.

Khởi nghiệp với phế phẩm nông nghiệp - Ảnh 5.

Nhà máy tại Lâm Đồng trong một ngày sản xuất giá thể

Nỗ lực được ghi nhận

Bước vào năm thứ 5 khởi nghiệp, với lĩnh vực cung cấp nguyên liệu đầu vào cho ngành nông nghiệp, doanh số trung bình mỗi tháng của Ficoco hiện tại đạt 1 tỉ đồng và có một xưởng sản xuất đặt tại Lâm Đồng, một nhà máy ở Bến Tre.

Các sản phẩm của Ficoco đã phục vụ hơn 1.200 nhà sản xuất nông nghiệp chuyên nghiệp trên 40 tỉnh thành phố trên cả nước.

Khởi nghiệp với phế phẩm nông nghiệp - Ảnh 6.

Những chuyến hàng đều đặn xuất kho để giao cho các đại lý trên cả nước

Dự tính trong tương lai, Ficoco sẽ nghiên cứu và cho ra mắt những sản phẩm chất lượng, đạt kỳ vọng của khách hàng để đưa việc trồng và chăm sóc cây trở thành thói quen hằng ngày của mỗi người.

Môi trường sống ngày một cải thiện, đời sống tinh thần cũng theo đó mà phát triển theo chiều hướng tích cực là mục tiêu dài hạn mà tôi đề ra khi tiếp tục bước đi cùng Ficoco.

Theo báo Tuổi Trẻ

Triển vọng kinh tế xanh từ phế phụ phẩm ngành sắn

Tây Ninh là thủ phủ cây sắn của cả nước, các phế phụ phẩm ngành sắn đang được địa phương này tận dụng triệt để, hướng tới kinh tế xanh và tuần hoàn, bền vững.

LTS: Hưởng ứng và hiện thực hóa chiến lược của Chính phủ cũng như các chương trình, đề án của Bộ NN-PTNT, năm 2024, phong trào phát triển nông nghiệp sinh thái, hữu cơ, tuần hoàn, phát thải carbon thấp, thân thiện với môi trường đã diễn ra sôi nổi tại nhiều địa phương, trên nhiều lĩnh vực trong ngành nông nghiệp…

Biến vỏ sắn thành phân hữu cơ chất lượng

Tây Ninh được mệnh danh là thủ phủ cây sắn với diện tích trồng sắn hằng năm đứng hàng đầu cả nước, ngành công nghiệp chế biến tinh bột sắn cũng không kém cạnh với số lượng nhà máy và công suất chiếm 50% toàn ngành.

Sắn (khoai mì) là một trong những cây trồng chủ lực trên đất Tây Ninh. Ảnh: Trần Trung.
Sắn (khoai mì) là một trong những cây trồng chủ lực trên đất Tây Ninh. Ảnh: Trần Trung.

Theo các chuyên gia, sắn không chỉ là cây dễ trồng, điểm nhấn của cây trồng này là ngoài phần giá trị nhất là củ sắn thì hầu hết các sản phẩm khác từ thân, lá cho đến bã sắn (củ sắn sau khi lấy hết tinh bột) đều có thể tận dụng để sản xuất phân bón hữu cơ, thức ăn gia súc, gia cầm. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân, “kho vàng” phế phụ phẩm này vẫn chưa được khai thác triệt để, thậm chí nhiều nơi còn gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng.

Tận dụng lợi thế, những năm gần đây, ngành nông nghiệp tỉnh Tây Ninh đã có nhiều giải pháp xây dựng chuỗi liên hoàn sản xuất – tiêu thụ – tận dụng phế phẩm, phụ phẩm trong ngành sán. Nhiều mô hình từng bước được hình thành và nhân rộng, góp phần phát triển nông nghiệp xanh, bền vững. Trong đó, mô hình ứng dụng chế phẩm sinh học xử lý vỏ sắn thành phân hữu cơ vi sinh là mô hình đầy triển vọng mà Trung tâm Khuyến nông tỉnh Tây Ninh đã và đang thực hiện và nhân rộng.

Theo kỹ sư Nguyễn Văn Nguyên, khuyến nông viên thuộc Trại Thực nghiệm và Tư vấn Dịch vụ nông nghiệp thuộc Trung tâm Khuyến nông tỉnh Tây Ninh, với triết lý “trả cho đất những gì lấy từ đất”, Trại Thực nghiệm đã nghiên cứu và đưa vào sử dụng viên nén vi sinh Nano-Gro™ để xử lý vỏ khoai mì thành phân hữu cơ vi sinh có ích cho đất và cây trồng.

“Viên nén vi sinh Nano-Gro™ là chế phẩm sinh học, bao gồm nhiều nấm và vi khuẩn có lợi. Đây là dòng vi sinh hiếu khí, khác với vi sinh bản địa là những dòng vi sinh yếm khí. Do đó, quá trình ủ phân không cần xới đảo, không cần che đậy bạt. Đặc biệt, loại viên nén này có thể phân hủy mọi chất hữu cơ, trong đó có vỏ sắn, qua đó tiết kiệm rất nhiều nhân công”, kỹ sư Nguyên chia sẻ.

Anh Nguyễn Thanh Vũ - chủ trang trại dâu tằm tại xã Tân Hưng (huyện Tân Châu, Tây Ninh) sử dụng viên nén vi sinh Nano-Gro™ kết hợp vỏ sắn tạo phân hữu cơ tại nguồn. Ảnh: Trần Trung.
Anh Nguyễn Thanh Vũ – chủ trang trại dâu tằm tại xã Tân Hưng (huyện Tân Châu, Tây Ninh) sử dụng viên nén vi sinh Nano-Gro™ kết hợp vỏ sắn tạo phân hữu cơ tại nguồn. Ảnh: Trần Trung.

Là một trong những hộ đầu tiên ứng dụng mô hình sử dụng chế phẩm sinh học xử lý vỏ sắn thành phân hữu cơ vi sinh, anh Nguyễn Thanh Vũ, chủ trang trại dâu tằm tại xã Tân Hưng (huyện Tân Châu) cho biết, dinh dưỡng trong 100kg phân vi sinh từ vỏ sắn có khoảng 1kg đạm, 1kg lân và 1kg kali. Ngoài ra, khi bón vào đất, phân này tiếp tục kết hợp với cỏ và rễ cây tạo ra được khoảng 20% nhu cầu đạm và một số chất dinh dưỡng khác cung cấp cho cây trồng.

“Việc sử dụng phân bón vi sinh giúp cây trồng chống chịu được các nấm bệnh gây hại, giúp cải tạo đất, làm tơi xốp, tăng độ phì nhiêu của đất, phát triển bộ rễ, giảm thiểu sâu bệnh. Đặc biệt, mô hình rất dễ thực hiện, giá thành rẻ, giảm chi phí đầu vào và tạo ra được sản phẩm nông sản đáp ứng nhu cầu của thị trường”, anh Vũ chia sẻ.

Để tăng hiệu quả phân hữu cơ từ vỏ sắn, anh Vũ dùng viên nén vi sinh Nano-Gro™ ủ ngay tại vườn nhà. Ảnh: Trần Trung.
Để tăng hiệu quả phân hữu cơ từ vỏ sắn, anh Vũ dùng viên nén vi sinh Nano-Gro™ ủ ngay tại vườn nhà. Ảnh: Trần Trung.

Ông Hà Thanh Tùng, Giám đốc Trung tâm Khuyến nông tỉnh Tây Ninh cho biết thêm, trong bối cảnh giá vật tư nông nghiệp tăng cao, việc tận dụng phế phụ phẩm theo chu trình khép kín thông qua áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ sinh học được coi là xu hướng nhằm phát triển nông nghiệp xanh và bền vững.

“Với nguồn vỏ sắn dồi dào, việc sử dụng chế phẩm sinh học xử lý vỏ sắn thành phân hữu cơ vi sinh là một trong những giải pháp đầy triển vọng. Trong thực tế, muốn có nông sản sạch bắt buộc phải có vùng nguyên liệu sạch, để có vùng nguyên liệu sạch tất yếu cây trồng phải sử dụng phân bón sạch, thuốc bảo vệ thực vật sạch, quy trình kỹ thuật sản xuất sạch… Ðó là tiền đề để mô hình này ngày càng phát triển”, ông Tùng nhấn mạnh.

Nhà máy xanh, tuần hoàn

Cùng với việc tận dụng từ vỏ sắn, gần đây, nhiều nhà máy tinh bột sắn tại tỉnh Tây Ninh đã triển khai tốt mô hình phát triển kinh tế tuần hoàn, áp dụng công nghệ Biogas xử lý phụ phẩm tinh bột sắn và công nghệ xử lý bùn từ chất thải làm phân bón hữu cơ cho cây trồng, đem lại hiệu quả kinh tế cao.

Hệ thống biogas của Công ty TNHH MTV Định Khuê xử lý nước và chất thải rắn trong hoạt động chế biến tinh bột sắn. Ảnh: Trần Trung.
Hệ thống biogas của Công ty TNHH MTV Định Khuê xử lý nước và chất thải rắn trong hoạt động chế biến tinh bột sắn. Ảnh: Trần Trung.

Là doanh nghiệp tiên phong đổi mới công nghệ, bước chân vào Nhà máy tinh bột sắn của Công ty TNHH MTV Định Khuê tọa lạc tại xã Suối Dây, huyện Tân Châu, chúng tôi hầu như không cảm nhận mùi hôi đặc trưng của quy trình sản xuất tinh bột sắn.

Bà Nguyễn Thị Hồng Hạnh – quản lý nhà máy cho biết, mùi hôi thối của quá trình sản xuất tinh bột sắn thường sinh ra từ bể lắng cặn và tách protein và từ bể kỵ khí bậc 1 rất lớn. Khí thải phát tán vào bầu khí quyển có một lượng lớn các khí gây hiệu ứng nhà kính.

Ngoài ra, hiệu suất phân hủy từ các hồ sinh học không cao nên việc xử lý sau kỵ khí rất khó khăn. Khi nhà máy tăng công suất, hệ thống hồ sinh học không đáp ứng đủ và xảy ra hiện tượng quá tải hồ kỵ khí, nước thải tại cống thoát vượt tiêu chuẩn cho phép nhiều lần. Đây chính là nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường trong quá trình sản xuất tinh bột sắn.

Bã sắn được xử lý qua hệ thống sấy từ khí của hầm biogas. Ảnh: Trần Trung.
Bã sắn được xử lý qua hệ thống sấy từ khí của hầm biogas. Ảnh: Trần Trung.

Xác định sản xuất gắn với bảo vệ môi trường, ngay từ rất sớm, Công ty đã đầu tư hầm biogas, khi công nghệ xử lý chất thải ngày càng hiện đại, hầm biogas không chỉ tạo ra khí gas để sấy bột và sấy bã sắn mà quá trình phân hủy chất hữu cơ trong hầm biogas còn giúp giảm tải cho hệ thống xử lý nước thải và tạo ra nguồn phân hữu cơ chất lượng. Ngoài ra, nhà máy còn có nhiều sáng kiến lắp đặt điện năng lượng mặt trời, tận dụng tối đa năng lượng tái tạo trong tái chế, sử dụng phế phụ phẩm. 

Bên cạnh đó, Công ty còn đầu tư hệ thống sấy bã để xử lý mùi hôi bã tươi, vừa dự trữ kho bã sấy được lâu, vừa tăng hiệu quả kinh tế khi bán phụ phẩm bã sấy khô. Bố trí khu vực thu gom, tập kết chất thải rắn sinh hoạt, chất thải rắn công nghiệp thông thường, chất thải nguy hại phát sinh trong quá trình sản xuất. Đặc biệt, cùng với đẩy mạnh sản xuất, để xây dựng vùng nguyên liệu ổn định cho nhà máy, từ nguồn phế phụ phẩm có được, Công ty còn hỗ trợ người trồng sắn. Công ty cũng đang trình Sở NN-PTNT Tây Ninh đề án chuỗi sản xuất – tiêu thụ – tận dụng phế phẩm, phụ phẩm.

“Đây là chuỗi liên kết đầu tiên trong ngành sắn, kỳ vọng dưới sự hỗ trợ của nhà nước, nguồn lực của doanh nghiệp, ngành sắn sẽ giải được triệt để bài toán ô nhiễm môi trường thông qua tận thu được tất cả phế phụ phẩm trong quá trình sản xuất”, bà Nguyễn Thị Hồng Hạnh – quản lý nhà máy kỳ vọng.

Ngành sắn Tây Ninh không ngừng đổi mới công nghệ, sản xuất theo chuỗi tuần hoàn khép kín hướng đến kinh tế xanh, bền vững. Ảnh: Trần Trung.
Ngành sắn Tây Ninh không ngừng đổi mới công nghệ, sản xuất theo chuỗi tuần hoàn khép kín hướng đến kinh tế xanh, bền vững. Ảnh: Trần Trung.

Theo ông Lâm Hồng Thái, Phó Chi cục trưởng Chi cục Trồng trọt và BVTV Tây Ninh, sản xuất nông nghiệp nói chung, ngành sắn nói riêng đang tạo ra một lượng phế phụ phẩm rất lớn, nguồn tài nguyên này nếu được khai thác, sử dụng tốt không chỉ đem lại hiệu quả kinh tế mà còn góp phần bảo vệ môi trường và giảm phát thải khí nhà kính.

Nông nghiệp xanh, nông nghiệp tuần hoàn đang trở thành động lực quan trọng của sự phát triển kinh tế – xã hội. Việc tận dụng triệt để phế phụ phẩm để tạo ra nguồn tài nguyên tái tạo là vô cùng cần thiết”, ông Thái nhấn mạnh.

Theo nongnghiepmoitruong.vn

Phụ phẩm nông nghiệp trở thành động lực cho sản phẩm xanh “Made in Việt Nam”

Trong làn sóng chuyển dịch chuỗi cung ứng toàn cầu gắn với cam kết Net Zero, các doanh nghiệp Việt Nam đang tận dụng phụ phẩm nông nghiệp để phát triển sản phẩm thân thiện môi trường, qua đó mở rộng hiện diện trong chuỗi giá trị toàn cầu…

Hình minh họa.
Hình minh họa.

Khi các cam kết trung hòa carbon đang dịch chuyển từ khẩu hiệu thành hành động cụ thể, việc xây dựng chuỗi cung ứng xanh không còn là lựa chọn mà là yêu cầu sống còn với nhiều doanh nghiệp. Trong bối cảnh đó, các mô hình hợp tác, ứng dụng công nghệ sinh học đang cho thấy vai trò thiết thực, nhưng cũng đối diện nhiều thách thức từ nguyên liệu đầu vào cho đến khung chính sách hỗ trợ.

DOANH NGHIỆP LAN TỎA SÁNG KIẾN XANH, HIỆN THỰC CAM KẾT NET ZERO

Tại sự kiện “NetZero Pallet – Tương lai của chuỗi cung ứng xanh” do AirX Carbon tổ chức ngày 3/7, các chuyên gia và lãnh đạo doanh nghiệp đã cùng thảo luận sâu về vai trò ngày càng nổi bật của các sáng kiến “xanh” đến từ doanh nghiệp Việt đang ngày càng mở rộng tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu.

Theo các chuyên gia, xu hướng sản xuất “xanh” và chuyển đổi xanh ban đầu còn manh mún, nhưng nay đã trở thành một nhu cầu thực tế, được thúc đẩy bởi các quy định quốc tế và cam kết của các tập đoàn lớn.

Minh chứng cho điều này, bà Thanh Phạm, Giám đốc Phát triển Bền vững Heineken Việt Nam, cho biết doanh nghiệp đã đặt phát triển bền vững làm trọng tâm trong chiến lược kinh doanh “Vì một Việt Nam tốt đẹp hơn”, với mục tiêu đạt Net Zero trong sản xuất vào năm 2030 và toàn chuỗi cung ứng vào năm 2040, sớm hơn cả cam kết quốc gia.

Để hiện thực hóa mục tiêu này, Heineken đã triển khai nhiều hành động cụ thể trong lĩnh vực logistics. Đối với các hoạt động trong tầm kiểm soát, toàn bộ xe nâng trong kho đã được chuyển sang sử dụng điện và các nhà máy đều vận hành bằng năng lượng tái tạo. Với các hoạt động ngoài tầm kiểm soát như vận tải, công ty đang từng bước nâng cấp đội xe lên tiêu chuẩn và cải tiến mạng lưới vận chuyển.

Đáng chú ý, Heineken đang hợp tác với AirX Carbon để thử nghiệm Net Zero Pallet. Đây là một sản phẩm pallet sinh học làm từ phụ phẩm nông nghiệp. Với các doanh nghiệp có lượng luân chuyển pallet lớn, việc thay thế pallet truyền thống bằng giải pháp xanh này có thể cắt giảm đáng kể lượng phát thải, trong bối cảnh logistics chiếm tới 20 – 30% tổng lượng phát thải của một doanh nghiệp sản xuất.

Tận dụng hơn 150 triệu tấn phụ phẩm nông nghiệp mỗi năm tại Việt Nam, NetZero Pallet được cung cấp bởi AirX Carbon là một giải pháp xanh đem lại những tín hiệu tích cực. Với công suất nhà máy tại Bình Dương đạt 1,5 triệu pallet mỗi năm, sản phẩm này sử dụng đến 95% phụ phẩm như xơ dừa, vỏ cà phê, không dùng gỗ và không độc hại. Mỗi pallet có khả năng lưu giữ tới 34 kg CO2, được chứng nhận là giải pháp hấp thụ carbon.

Bà Thảo Trần, Đồng sáng lập kiêm Giám đốc Chiến lược của AirX Carbon chia sẻ: “Việt Nam đang chủ động bước vào kỷ nguyên phát triển bền vững với tầm nhìn chiến lược và tinh thần tiên phong. Không chỉ theo kịp xu hướng, chúng ta đang thực sự góp phần kiến tạo các giải pháp cho thế giới”.

Tương tự, trong ngành dệt may, Faslink cũng là một ví dụ về nỗ lực xanh hóa chuỗi cung ứng. Doanh nghiệp này đã ra mắt PINALINA, dòng vải tự nhiên cao cấp được chiết tách từ lá dứa. Việc tận dụng nguồn phế phẩm nông nghiệp này không chỉ giúp giảm phát thải CO2 so với hành vi đốt bỏ lá dứa, mà còn tạo ra một nguồn thu nhập mới cho người nông dân, ước tính khoảng 60 triệu đồng/ha.

CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC CHO CÁC SẢN PHẨM XANH  “MADE IN VIETNAM”

Dù nhu cầu thị trường ngày càng lớn, hành trình phát triển các sản phẩm xanh “Made in Vietnam” không hề dễ dàng. Theo PGS. TS Nguyễn Hồng Quân, Viện trưởng Viện Phát triển Kinh tế Tuần hoàn, Đại học Quốc gia TP.HCM đưa ra lưu ý về tình trạng “tẩy xanh” (greenwashing).

Ông Quân cho rằng những doanh nghiệp chỉ thực hiện các hoạt động bền vững mang tính hình thức, bề nổi sẽ không thể tồn tại lâu dài. Phát triển bền vững phải là một giá trị cốt lõi, được thể hiện xuyên suốt trong tầm nhìn và hành động thực chất của doanh nghiệp.

Tuy nhiên, rào cản đối với các sản phẩm xanh hiện nay còn liên quan đến các vấn đề đến từ chính sách. Theo ông Quân, các giá trị phi tài chính như bảo vệ môi trường, tạo công ăn việc làm tại địa phương hiện chưa được thể chế hóa và quy đổi thành lợi thế kinh tế.

Điều này khiến sản phẩm xanh, dù mang lại nhiều lợi ích cho xã hội, vẫn khó cạnh tranh về giá so với các sản phẩm truyền thống.

Trước những thách thức đó, ông Quân đề xuất cần có chính sách công nhận và lượng hóa các giá trị bền vững, ví dụ như qua tín chỉ carbon, để thị trường có thể định giá đúng sản phẩm.

Đồng thời, chính quyền địa phương cần hỗ trợ doanh nghiệp trong việc tiếp cận và chuẩn hóa nguồn nguyên liệu, giúp họ giảm chi phí và tăng tính cạnh tranh, tạo ra một hệ sinh thái hỗ trợ cho sự phát triển bền vững.

Từ góc độ của một doanh nghiệp, ông Lê Thanh, CEO AirX Carbon, chia sẻ những thách thức chính doanh nghiệp gặp phải trong việc thay thế các vật liệu truyền thống. “Việc hiểu rõ tính chất hóa học, chuẩn hóa nguyên liệu đầu vào từ phụ phẩm nông nghiệp là vô cùng khó khăn”, ông Thanh nói.

“Bài toán” này đến từ cả chất lượng không ổn định của nguyên liệu thô và sự biến động về giá cả. Để giải quyết, AirX Carbon phải vừa nghiên cứu cải tiến kỹ thuật, vừa cam kết giữ giá ổn định cho khách hàng, thậm chí còn nhận được sự hỗ trợ ngược lại từ chính các đối tác lớn trong việc tìm kiếm và chuẩn hóa nguồn cung.

Theo vneconomy.vn

Sản xuất nhựa sinh học từ phụ phẩm nông nghiệp: Hướng tới nền kinh tế tuần hoàn

Dự án “Kinh tế tuần hoàn trong sản xuất ca cao” được thực hiện từ năm 2022 đã hỗ trợ hàng nghìn nông hộ và doanh nghiệp tại nhiều tỉnh thành phát triển nông nghiệp tái sinh. Từ phế phụ phẩm của các ngành cà phê, ca cao, dừa, đã tạo ra nhiều sản phẩm khác như nhựa sinh học, bao bì, pallet… từ đó tăng thu nhập cho người nông dân…

Trong bối cảnh toàn cầu đang đối mặt với những thách thức về môi trường và tài nguyên, khái niệm kinh tế tuần hoàn đã trở thành một xu hướng không thể bỏ qua. Tại Việt Nam, ngành nông nghiệp đang dần chuyển mình theo hướng này, với những sáng kiến đột phá nhằm tận dụng tối đa phụ phẩm nông nghiệp.

Từ ngày 30/10 đến 1/11/2025, tại Trung tâm Hội chợ và Triển lãm Sài Gòn (SECC), Helvetas Việt Nam đã giới thiệu một loạt giải pháp bao bì sáng tạo từ phụ phẩm nông nghiệp, mở ra một chương mới cho ngành nông sản – thực phẩm Việt Nam.

Mỗi năm, Việt Nam tạo ra hàng chục triệu tấn phụ phẩm nông nghiệp, nhưng phần lớn chưa được tái sử dụng hiệu quả. Điều này không chỉ gây lãng phí nguồn sinh khối, mà còn tác động tiêu cực tới môi trường. Trong khi đó, nhiều ngành sản xuất vẫn phụ thuộc vào vật liệu nguyên sinh và nguyên liệu hóa thạch, dẫn đến chi phí cao và phát thải lớn. Trước thực tế đó, các sáng kiến mà Helvetas giới thiệu tại triển lãm đã mở ra hướng đi mới: biến phế phẩm thành vật liệu xanh, hướng tới nền kinh tế tuần hoàn.

Dự án “Kinh tế tuần hoàn trong sản xuất ca cao” do Helvetas Việt Nam thực hiện từ năm 2022 đã hỗ trợ hàng nghìn nông hộ và doanh nghiệp tại nhiều tỉnh thành áp dụng các giải pháp kinh tế tuần hoàn và nông nghiệp tái sinh. Những cải tiến này không chỉ giúp giảm tác động môi trường mà còn tối ưu chi phí và tăng thu nhập cho người nông dân.

Tại Vietnam Coffee Expo 2025, dự án đã mang đến loạt sản phẩm tiên phong như bao bì, pallet, đồ dùng được làm từ phế phụ phẩm của các ngành cà phê, ca cao, dừa.

Một số vật liệu sinh học được Helvetas giới thiệu tại Coffee Expo 2025.
Một số vật liệu sinh học được Helvetas giới thiệu tại Coffee Expo 2025.

Một trong những điểm nhấn của triển lãm là pallet sinh học làm từ xơ dừa, thu hút sự quan tâm của nhiều doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu. Sản phẩm này không chỉ hướng tới thay thế pallet gỗ và nhựa truyền thống, mà còn góp phần giảm phát thải carbon, tiết kiệm chi phí vận chuyển và hạn chế phá rừng.

Ông Anh Dương, chuyên gia vật liệu sinh học của AirX Carbon (một công ty vật liệu sinh học của Việt Nam), cho biết 1.000 tấm pallet sinh học có thể lưu trữ tới 34 tấn carbon, đồng thời có giá thành rẻ hơn khoảng 20% so với pallet gỗ.

Ngoài ra, dự án còn trưng bày các mẫu vật liệu nhựa sinh học từ phụ phẩm nông nghiệp. Bã cà phê hoặc bột vỏ ca cao xay mịn trộn với PLA (polylactic acid) tạo nên loại nhựa có khả năng phân hủy sinh học hoàn toàn, phù hợp cho các sản phẩm dùng một lần như ly, ống hút, khay đựng. Công thức pha trộn phụ phẩm với nhựa PP cũng giúp tạo ra các sản phẩm có độ bền tới 5 năm, có thể thay thế nhựa thông thường hoặc ứng dụng cho đồ dùng tái sử dụng và sản phẩm thương hiệu của các chuỗi cà phê, nhà hàng và khách sạn.

Một giải pháp bao bì mới đầy tiềm năng mà dự án đã hỗ trợ triển khai là giấy gói làm từ vỏ lụa hạt ca cao. Sản phẩm này giữ nguyên vẻ thủ công đặc trưng, có độ mềm, mịn, dễ gấp, lại thân thiện môi trường, đang được Marou Chocolates sử dụng làm giấy gói sô-cô-la.

Vietnam Coffee Expo là sự kiện uy tín hàng đầu trong ngành Thực phẩm và Đồ uống (F&B), với sự tham gia hàng trăm doanh nghiệp ngành cà phê, trà. Năm 2024, triển lãm đã thu hút 200 gian hàng và hơn 19.000 khách tham quan đến từ nhiều quốc gia.

Ông Nguyễn Đình Tuấn, Quản lý Dự án, chia sẻ: “Chúng tôi mong muốn các giải pháp tuần hoàn trong ngành ca cao, đặc biệt là các vật liệu bao bì sáng tạo từ phế phụ phẩm nông nghiệp, được giới thiệu rộng rãi hơn, kết nối các doanh nghiệp trong và ngoài nước để cùng mở ra cơ hội hợp tác, thúc đẩy áp dụng kinh tế tuần hoàn và góp phần giúp Việt Nam đạt mục tiêu phát thải ròng bằng 0”.

Trong bối cảnh ngành F&B và logistics đang tìm kiếm vật liệu thay thế nhựa và giải pháp sản xuất bền vững, gian hàng của Helvetas tại Vietnam Coffee Expo 2025 không chỉ là điểm trưng bày công nghệ mới, mà còn là minh chứng cho sự chuyển mình xanh của ngành nông nghiệp Việt Nam. Những sáng kiến này không chỉ giúp giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường mà còn mở ra cơ hội kinh tế mới, góp phần xây dựng một nền nông nghiệp bền vững và phát triển.

Theo vneconomy.vn

Biến phế phẩm nông nghiệp thành “vàng đen”

Dự án “Kinh tế tuần hoàn trong sản xuất ca cao” do Liên minh châu Âu tài trợ đang mở ra triển vọng mới cho nông nghiệp Việt Nam khi biến phụ phẩm nông nghiệp thành tài nguyên có giá trị, góp phần bảo vệ môi trường và tăng thu nhập cho nông dân.

Giải pháp than sinh học

Hàng năm, ngành nông nghiệp Việt Nam thải ra môi trường hàng triệu tấn phụ phẩm từ quá trình sản xuất, chế biến nông sản. Những phế phẩm này thường bị đốt bỏ hoặc xử lý không đúng cách, gây ô nhiễm môi trường và lãng phí nguồn tài nguyên tiềm năng. Thông qua Dự án “Kinh tế tuần hoàn trong sản xuất ca cao” do Liên minh châu Âu tài trợ, Helvetas Việt Nam đang thúc đẩy mô hình sản xuất không lãng phí, biến phụ phế phẩm nông nghiệp thành tài nguyên có giá trị.

Một trong những giải pháp nổi bật của dự án là công nghệ sản xuất than sinh học (biochar) từ đa dạng phụ phẩm nông nghiệp như vỏ ca cao, vỏ cà phê, vỏ mắc ca, cành lá, rơm, trấu và các phụ phẩm nông nghiệp khác. 

“Than sinh học là sản phẩm thân thiện với môi trường có nhiều ứng dụng trong nông nghiệp và công nghiệp. Việc chuyển hóa phụ phẩm nông nghiệp thành than sinh học không chỉ giải quyết vấn đề ô nhiễm mà còn tạo ra sản phẩm có giá trị kinh tế cao”, ông Nguyễn Đình Tuấn- Quản lý dự án chia sẻ.

Biến phế phẩm nông nghiệp thành “vàng đen” - Ảnh 1.
Chuyên gia của dự án đang đánh giá chất lượng sản xuất than sinh họctại HTX Nhất Tâm (xã Ea Đar, huyện Ea Kar, Đăk Lăk). Ảnh: Helvetas

“Từ một tấn phế phụ phẩm nông nghiệp, chúng ta có thể sản xuất khoảng 400-500kg than sinh học, tương đương với việc khóa hơn 1 tấn CO₂, đồng thời tạo ra sản phẩm có giá trị vài triệu đồng”.

TS Phạm Văn Lương – Giám đốc Quốc gia Helvetas Việt Nam

Dự án đã thử nghiệm 2 công nghệ khác nhau, khí hóa và nhiệt phân, để có thể cung cấp đa dạng các phương pháp phù hợp cho từng mục đích sử dụng và các nhóm đối tượng khác nhau, từ doanh nghiệp lớn tới các HTX, nông hộ. Công nghệ khí hóa có ưu điểm lớn là có thể cung cấp nhiệt để đun nấu hoặc sấy nông sản, trong khi đó phương pháp nhiệt phân là lựa chọn tối ưu để sản xuất than sinh học có chất lượng cao, có thể thương mại hóa.

Ứng dụng than sinh học trong nông nghiệp mang lại nhiều lợi ích toàn diện. Về môi trường, giải pháp này giúp giảm ô nhiễm do đốt phụ phẩm nông nghiệp, giảm phát thải khí nhà kính thông qua việc khóa carbon lâu dài trong đất, giảm sử dụng phân bón hóa học.

Về kinh tế, việc bán than sinh học vừa giúp tạo nguồn thu nhập thêm cho nông dân, đồng thời sử dụng than làm phân bón có thể cải thiện năng suất và chất lượng cây trồng và giảm chi phí đầu vào cho sản xuất nông nghiệp.

Biến phế phẩm nông nghiệp thành “vàng đen” - Ảnh 2.
Than sinh học có hàm lượng carbon hữu cơ và dinh dưỡng cao, phù hợp để cải tạo đất, tăng năng suất cây trồng. Ảnh: Helvetas

Về xã hội, sản xuất than sinh học tạo ra việc làm mới, đồng thời cải thiện sức khỏe cộng đồng do giảm ô nhiễm không khí từ đốt phụ phẩm nông nghiệp.

Mở rộng mô hình tại nhiều địa phương

Hiện dự án đang triển khai mô hình trình diễn sản xuất than sinh học bằng phương pháp nhiệt phân tại 2 nông hộ trồng ca cao ở huyện Ea Kar, Đăk Lăk. Trước đó, mô hình sản xuất than sinh học bằng phương pháp khí hóa, kết hợp sản xuất than và hệ thống sấy nông sản, đã được thử nghiệm thành công tại Công ty Ca cao Trọng Đức. Trên cơ sở thành công từ các mô hình này, dự án sẽ tiếp tục hỗ trợ các đơn vị đối tác khác trong ngành ca cao cũng như mở rộng áp dụng sang các ngành có tiềm năng áp dụng kinh tế tuần hoàn như cà phê, dừa, hồ tiêu, điều… tại miền Trung và ĐBSCL.

Ông Nguyễn Đình Tuấn chia sẻ: “Chúng tôi không đơn thuần chỉ xử lý chất thải nông nghiệp mà mong muốn nhân rộng việc áp dụng bộ giải pháp kinh tế tuần hoàn của ngành ca cao sang các ngành nông sản thực phẩm khác của Việt Nam”.

Dự án đang triển khai tổ chức các khóa đào tạo cho nông dân, doanh nghiệp và các bên liên quan, đồng thời biên soạn tài liệu và video hướng dẫn để giúp nhân rộng mô hình. 

Theo Báo Dân Việt

Biến vỏ bưởi bỏ đi thành tinh dầu, dược liệu và phân hữu cơ

Không chỉ là phụ phẩm bị bỏ phí, vỏ bưởi chứa hàm lượng tinh dầu và naringin có giá trị cao. Nghiên cứu của Trường Đại học Cần Thơ đã chứng minh khả năng khai thác hiệu quả nguồn nguyên liệu này, góp phần giảm lãng phí nông sản và nâng cao giá trị kinh tế.

Nghiên cứu công nghệ sản xuất naringin và tinh dầu từ vỏ quả bưởi và xây dựng mô hình sản xuất thực nghiệm - Cổng thông tin điện tử Cục Thông tin, Thống kê

Bưởi là loại cây ăn quả, được trồng phổ biến. Một trong những vấn đề gặp phải khi tiêu thụ bưởi là tỷ lệ phần ăn được (thịt quả) rất thấp. Đây là đặc điểm chung của các loại cây có múi do có lớp vỏ dày, dẫn đến lượng phụ phẩm chiếm hơn 50%. Hiện nay, trong quá trình sản xuất, một lượng lớn vỏ quả bị vứt bỏ hoặc ủ phân hữu cơ vi sinh. Điều này thực sự hết sức lãng phí vì vỏ của các loại quả có múi chứa một lượng lớn tinh dầu cũng như naringin. Chẳng hạn, hàm lượng tinh dầu chiếm khoảng 0,4-1% khối lượng vỏ bưởi. Tinh dầu trong vỏ của các loại quả có múi chứa một hỗn hợp các chất thơm dễ bay hơi và có giá trị kinh tế cao. Trong đó, hợp chất hữu D-limonene là thành phần chủ yếu, chiếm tỷ lệ cao nhất, được ứng dụng rộng rãi trong ngành công nghiệp mỹ phẩm, thực phẩm, hương liệu, và dược phẩm để tạo hương thơm. D-limonene còn có tác dụng chống ô xy hóa, tăng cường sự thẩm thấu của các sản phẩm dưỡng da. Bên cạnh đó, Naringin được tìm thấy trong vỏ bưởi, chanh, hạt quýt, thuộc nhóm flavonoid, có khả năng chống oxy hoá, ngừa xơ cứng động mạch, gián tiếp chống cao huyết áp và tai biến mạch máu não.

Nhằm tận dụng nguồn phụ phẩm từ trái bưởi, nhóm nghiên cứu Trường Đại học Cần Thơ đã thực hiện đề tài “Nghiên cứu công nghệ sản xuất naringin và tinh dầu từ vỏ quả bưởi và xây dựng mô hình sản xuất thực nghiệm” với mục tiêu không chỉ đưa ra quy trình sản xuất naringin và tinh dầu từ vỏ quả bưởi, phụ phẩm của quá trình này cũng được nhóm nghiên cứu đã tận dụng để ủ thành phân hữu cơ bón cho cây trồng. Theo đó, một số loại bưởi như Năm Roi, Da Xanh, Lông Cổ Cò, Thanh Kiều được thu hái trực tiếp tại nhà vườn. Sau khi được xử lý rửa sạch nhiều lần với nước để loại bỏ bụi bám, vỏ quả bưởi được tách riêng hai phần vỏ xanh và trắng rồi đem cắt nhỏ. Vỏ bưởi trắng cắt miếng nhỏ được sấy ở nhiệt độ 65 độ C trong 24 giờ, tiếp theo xay thành bột mịn. Bột vỏ trắng này được sử dụng để thu nhận naringin. Vỏ xanh cắt miếng nhỏ được sử dụng cho quá trình thu nhận tinh dầu. Quy trình thu nhận tinh dầu bằng phương pháp ép được nhóm tác giả thực hiện bằng cách đưa vỏ bưởi xanh vào máy ép với tốc độ 35 Hz, vừa ép vừa phun nước để hỗ trợ ly trích tinh dầu. Dịch chiết sau khi ép được bổ sung muối với nồng độ 2% và để lắng ở 30 độ C. Dịch ép để lắng qua đêm sẽ tách thành hai phần, đem ly tâm từng phần (6.000 vòng/phút) để thu hồi tinh dầu và làm khan tinh dầu thu được bằng Na2SO4. Hàm lượng hợp chất D-limonene có trong tinh dầu từ 89,944% – 93,826%.

Đối với quy trình thu nhận tinh dầu bằng phương pháp chưng cất, đưa vỏ bưởi xanh cắt miếng nhỏ vào máy xay, bổ sung nước theo tỉ lệ nước-nguyên liệu là 3:1 (mL/g), xay nhuyễn hỗn hợp. Cho toàn bộ hỗn hợp vào bình cầu và dưới sự hổ trợ của dầu tải nhiệt sẽ tiến hành chưng cất bằng hơi nước ở 130 độ C trong 90 phút. Sau đó, làm khan tinh dầu bằng Na2SO4. Hàm lượng hợp chất D-limonene có trong tinh dầu từ 78,839% – 97,539%. Ở quy trình thu nhận naringin, bột vỏ bưởi trắng đã sấy khô ngâm với ethanol 80% trong 1,5 giờ theo tỉ lệ mẫu và ethanol 80% là 1:14, trích hỗn hợp bằng phương pháp Soxhlet ở 80oC trong 5,5 giờ. Dịch trích được cô quay chân không ở 70oC để loại bỏ dung môi (còn khoảng 1/10 thể tích ban đầu). Kết tinh dịch trích sau cô quay được để yên ở nhiệt độ phòng trong 48 giờ. Lọc bằng giấy lọc để thu kết tinh và rửa lại bằng cồn 96%, để khô ở nhiệt độ phòng và sấy ở 50 độ C để thu hồi naringin. Hàm lượng naringin trong dịch trích chiếm 73,26%. Phụ phẩm vỏ bưởi sau chưng cất được nhóm xử lý thành phân compost. Nhóm nghiên cứu đã đem phơi vỏ bưởi sau chưng cất tinh dầu cho ráo nước. Phối hợp với một số cơ chất khác như tro trấu, xơ dừa, phân NPK và chế phẩm Trichoderma. Cho toàn bộ hỗn hợp vào thùng ủ và cung cấp nước cho khối ủ để đạt độ ẩm 40-60%. Cách ba ngày kiểm tra khối ủ và đảo trộn ba ngày một lần. Sau 39 ngày ủ, khối ủ được đánh đống ba-bốn ngày để giảm nhiệt độ và ổn định chất hữu cơ, và có thể bón cho cây trồng.

Theo nhóm tác giả, các phương pháp nói trên dễ áp dụng, sử dụng dung môi an toàn, rẻ tiền, có thể áp dụng quy mô công nghiệp cho ngành dược phẩm. Kết quả nghiên cứu có thể chuyển giao cho các đơn vị có nhu cầu và điều chỉnh từng phương pháp theo yêu cầu cho phù hợp với quá trình sản xuất thực tế.

Theo nongnghiephuuco.vn

Biến phế phẩm nông nghiệp thành sản phẩm tiêu dùng

Việt Nam hiện có rất nhiều mặt hàng nông sản xuất khẩu ra thế giới cũng như tiêu dùng trong nước. Bên cạnh sản phẩm chính thì phế phụ phẩm từ nông nghiệp hàng năm loại thải ra rất nhiều, gây lãng phí nguồn tài nguyên. Do đó, biến phụ phẩm nông nghiệp thành sản phẩm tiêu dùng không chỉ đem lại hiệu quả kinh tế mà còn giảm phát thải ra môi trường.

Tổng lượng phế, phụ phẩm trong nông nghiệp của Việt Nam vào năm 2022 ước tính gần 160 triệu tấn. Lượng phế, phụ phẩm sau thu hoạch cây trồng trên đồng ruộng khoảng 90 triệu tấn (chiếm 56,2%). Trong đó, phụ phẩm trồng trọt sau thu hoạch từ rơm lúa chiếm khối lượng lớn (42,8 triệu tấn), thân cây bắp (10 triệu tấn), rau và quả (3,6 triệu tấn), thân cây mì (3,1 triệu tấn), trái giả đào lộn hột (3,1 triệu tấn) và các loại khác (6,1 triệu tấn). Trong đó có tới 61% là hữu cơ có thể tái chế được, chứa đựng lượng dinh dưỡng rất tốt, có thể hoàn trả, cải tạo bồi dưỡng lại cho đất.

Tận dụng được nguồn phế thải nông nghiệp tạo ra các sản phẩm khác là một hoạt động đem lại hiệu quả cao, không chỉ về kinh tế mà còn góp phần giảm phát thải ra môi trường. Cùng điểm qua một số sản phẩm từ phế thải nông nghiệp sau đây:

Sản xuất màng bọc thực phẩm từ nước dừa khô

PGS.TS Hoàng Xuân Niên và cộng sự Trường Đại học Thủ Dầu Một đã thực hiện thành công đề tài “Nghiên cứu công nghệ sản xuất màng cellulose sinh học từ nước quả dừa khô ứng dụng làm bao gói thực phẩm”. 

Sau ba năm thực hiện đề tài,  PGS.TS Hoàng Xuân Niên và cộng sự , với sự hợp tác của các nhà nghiên cứu ở Phân hiệu Trường Đại học Lâm nghiệp Đồng Nai và Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP. Hồ Chí Minh đã tạo ra mô hình thiết bị sản xuất màng cellulose sinh học từ nước quả dừa khô quy mô công suất 300 kg/ngày.

Mô hình sản phẩm làm từ nước quả dừa khô có thể đạt công suất lớn 300 kg/ngày.

Theo PGS.TS Hoàng Xuân Niên, sản phẩm màng cellulose vi sinh được sản xuất theo phương pháp mới tạo ra sản phẩm mới sẽ có hiệu quả kinh tế cao. Năng suất của dây chuyền sản xuất cao, nguyên liệu sản xuất có thể tận dụng được những phần loại ra từ các quá trình sản xuất những sản phẩm từ celluose vi sinh khác.

Đặc biệt, kích thước sản phẩm lớn, nhiều định lượng nên có thể sử sụng theo nhiều mục đích khác nhau. Sản phẩm khô, dễ bảo quản, dễ vận chuyển, góp phần phát triển kinh tế – xã hội của địa phương, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững ngành chế biến dừa.

Sự hình thành bộ tiêu chuẩn cơ sở cho sản phẩm màng cellulose sinh học, quy trình công nghệ sản xuất đi kèm đã giúp sản phẩm thu hút được khách hàng. Dự kiến từ năm 2025, sản phẩm sẽ được ứng dụng tại Công ty TNHH chế biến sản phẩm dừa Cửu Long, DNTN và Công ty TNHH Vĩnh Tiến để đưa sản phẩm ra thị trường.

Sản xuất vật liệu dệt sinh thái từ xơ lá dứa

Sau hơn 3 năm nghiên cứu và phát triển, Bảo Lân Textile và Ecofa Việt Nam vừa chính thức giới thiệu tơ, sợi, vải sinh thái Ananas được sản xuất đại trà từ xơ lá dứa – một phế phẩm nông nghiệp phổ biến tại Việt Nam.

Trong đó, Ecofa Việt Nam đảm nhiệm việc cung cấp tơ dứa sẵn sàng kéo sợi và sợi pha trộn. Thử nghiệm này bắt đầu vào giữa năm 2021. Đến đầu năm nay, công ty đã có thể cung cấp 18 tấn tơ dứa từ hơn 1 triệu tấn lá dứa thu hoạch mỗi tháng. Dự kiến sản lượng sẽ tăng lên 50 tấn/tháng vào cuối năm 2025.

Sợi Ananas được sản xuất đại trà

“Biến phế phẩm trồng dứa thành sợi vải may mặc” không phải là khái niệm mới. Quy trình được hiểu đơn giản là tách xuất xơ dứa thô (cùng màu & độ dài) từ lá, rồi “bông” xơ thô thành tơ (đảm bảo đồng đều màu, độ ẩm, dài & mảnh). Lúc này, tơ dứa mới được dùng kéo sợi, dệt vải. Sau đó, Bảo Lân Textile sẽ sử dụng tơ dứa do Ecofa Việt Nam cung cấp để tạo ra các sản phẩm sợi và vải dứa Ananas phục vụ ngành dệt, may mặc, thời trang, nội thất…

Ngoài ra, các sản phẩm từ Ananas được Viện Nghiên cứu Dệt may TP. Hồ Chí Minh (VTRSI-TTC) và Tổ chức Kiểm tra và phân tích kỹ thuật Nissenken (Nhật Bản) cấp chứng nhận cho 4 tính năng gồm độ bền vải, khử mùi tự nhiên trên sợi, kháng khuẩn tự nhiên trên sợi và chống UV tự nhiên trên tơ lên đến 50+UPF.

Bà Nguyễn Thị Tuyết Mai, Phó tổng thư ký Hiệp Hội Dệt may Việt Nam (Vitas) nhìn nhận trong bối cảnh ngành dệt may trong nước và thế giới vẫn còn thiếu nguyên liệu sản xuất hướng đến thời trang xanh, việc thành công nghiên cứu và sản xuất đại trà, khép kín tơ sợi dứa đủ chất lượng làm vải may mặc, có tác động rất tích cực đến sự phát triển ngành dệt may, không chỉ trong biên giới Việt Nam.

“Sản phẩm đánh dấu bước ngoặt lớn cho sự kết nối giữa ngành nông nghiệp trồng dứa Việt Nam và xu thế thời trang xanh toàn cầu”, bà Mai nhấn mạnh.

Sản phẩm pallet làm từ sơ vỏ dừa

Từ phế phẩm nông nghiệp như vỏ dừa, vỏ trấu, vỏ cà phê, vụn gỗ…, những tấm pallet thành hình khởi nguồn từ một start-up nhằm sản xuất, nghiên cứu giải pháp thay thế nhựa bằng phế phẩm nông nghiệp bị vứt bỏ, cũng là nỗ lực góp phần giải quyết các vấn đề ô nhiễm rác thải nhựa và phát thải khí nhà kính từ ngành nhựa.

Đây là sáng kiến mang tên NetZero Pallet của startup AirX Carbon do Lê Thanh và Dương Tiết Anh sáng lập – dự án giành giải quán quân trong cuộc thi Startup Wheel 2024.

Sản phẩm từ xơ dừa của startup AirX Carbon

Xơ và vỏ dừa khô, sạch, không lẫn tạp chất được chọn lựa và thu mua từ các nhà máy chế biến dừa hoặc mua trực tiếp từ các vựa thu mua phế liệu nông nghiệp. Sau đó, phơi hoặc sấy khô xơ dừa để đảm bảo độ ẩm phù hợp đồng thời để xơ dừa có điều kiện tốt nhất.

Kết hợp công nghệ sản xuất dưới áp suất và nhiệt độ cao hình thành nên pallet phế phẩm nông nghiệp xơ dừa cứng cáp và có tải trọng tương đương với pallet gỗ và pallet nhựa truyền thống với hơn 2 tấn tải trọng động dành cho vận tải và 5 tấn tải trọng tĩnh dành cho lưu trữ.

NetZero Pallet có cấu trúc phẳng dùng để cố định hàng hóa mỗi khi dùng xe nâng pallet, hoặc các thiết bị vận chuyển khác. Anh Lê Thanh cho biết, tương tự pallet gỗ truyền thống, nhưng pallet xơ dừa có giá bán rẻ hơn 20%, thiết kế có thể xếp chồng lên nhau giúp tiết kiệm 70% không gian kho bãi và giảm 50% chi phí vận chuyển.

“Quan trọng là thực hành kinh tế tuần hoàn, khai thác giá trị của phế phẩm nông nghiệp, tránh phá rừng khai thác gỗ làm pallet, nhất là tạo thêm dòng thu nhập mới cho nông dân địa phương”, anh Lê Thanh chia sẻ.

Việc biến phế phẩm nông nghiệp thành các sản phẩm tiêu dùng không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn góp phần quan trọng trong việc bảo vệ môi trường và phát triển bền vững. Bằng cách tận dụng nguồn tài nguyên sẵn có, chúng ta không chỉ giảm thiểu lượng rác thải nông nghiệp mà còn tạo ra những sản phẩm giá trị, thúc đẩy nền kinh tế tuần hoàn. Đây là hướng đi tiềm năng cho ngành nông nghiệp, giúp nâng cao giá trị sản xuất và mở ra cơ hội cho các doanh nghiệp, góp phần vào sự phát triển xanh và bền vững của đất nước.

Theo moitruongachau.com

Lợi ich từ tái sử dụng phế phẩm nông nghiệp

Lâm Đồng là một tỉnh phát triển mạnh về nông nghiệp, đi kèm với đó là một lượng phụ phẩm nông nghiệp lớn thải ra môi trường hằng năm. Để giảm thiểu ô nhiễm môi trường đồng thời tận dụng các loại phụ phẩm làm các loại phân bón, tái sử dụng cho canh tác.

Hội Nông dân tỉnh Lâm Đồng đã hỗ trợ nông dân các giải pháp kỹ thuật để tái chế rác thải một cách hiệu quả.

Anh Trần Hữu Nguyễn ở xã Ninh Gia, Huyện Đức Trọng vừa trồng chuối, trồng rau và nuôi heo. Anh đã tận dụng các phế phẩm từ cây chuối để nuôi heo. Cùng với đó, bằng sự hỗ trợ kỹ thuật và vật tư từ Hội Nông dân huyện anh đã ủ thành công phân trùn quế từ ủ phân heo để trồng rau sạch. Quy trình khép kín này đã giúp anh tiết kiệm chi phí và môi trường sản xuất luôn sạch sẽ.

Để giúp nông dân xây dựng các bể chứa xử lý phụ phẩm nông nghệp, Hội Nông dân các cấp đã hỗ trợ các vật tư bao Sồm gạch, cát, đá, tôn xi măng… Từ đó, bà con thực hiện mô hình nuôi sâu canxi; xây dựng mô hình nuôi trùn quế; xây dựng mô hình nuôi gà trên đệm lót sinh học dày. Ngoài ra, Hội nông dân còn hỗ trợ nông dân các loại trứng sâu canxi, trùn quế giống, chế phẩm ủ phân hữu cơ, chế phẩm ủ thức ăn lên men phục vụ chăn nuôi; hỗ trợ thùng rác và máy thái đa năng chuyên xay phụ phẩm nông nghiệp. Đây là các vật tư, công cụ, giống nuôi trồng cần thiết để xây dựng các mô hình xử lý rác thải nông nghiệp thành các loại phân bón, chế phẩm phục vụ lại hoạt động sản xuất nông nghiệp tại các khu vực nông thôn.

Theo thống kê, mỗi năm, Lâm Đồng có khoảng 1 triệu tấn chất thải từ chăn nuôi, trong đó, có khoảng trên 70% được thu gom, ủ vi sinh nhằm làm phân bón cho cây trồng. Đồng thời, có khoảng khoảng 80% lượng nước thải từ chăn nuôi gia súc được thu gom vào hệ thống hầm biogas để xử lý tạo khí đốt, một phần được thải vào các bể sinh học.

Ngoài ra, còn một số lượng lớn thân, cành, vỏ thực vật cũng được tận dụng để ủ phân. Việc sử dụng phế phụ phẩm nông nghiệp thời gian qua đã giúp nông dân giảm chi phí đầu vào trong chăn nuôi, trồng trọt, góp phần hạn chế sử dụng các loại vật tư nông nghiệp và tạo ra sản phẩm nông sản chất lượng, sạch. Đặc biệt, thúc đẩy sản xuất nông nghiệp theo hướng bền vững, thích ứng với điều kiện biến đổi khí hậu. Nắm bắt được các ưu điểm của nông nghiệp tuần hoàn, nhiều doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ hợp tác, người dân trên địa bàn tỉnh đã triển khai các mô hình theo hướng nông nghiệp tuần hoàn, mang lại hiệu quả cao.

Theo Báo Lâm Đồng

Sản xuất tơ sợi từ lá dứa mở ra giá trị mới cho phụ phẩm nông nghiệp

Mô hình sản xuất tơ sợi từ lá dứa (khóm) tại xã Hỏa Lựu, thành phố Cần Thơ đang trở thành một điển hình về kinh tế tuần hoàn.

Mô hình này đã giúp người dân mở ra hướng đi mới, biến phụ phẩm nông nghiệp thành nguồn nguyên liệu quý giá để dệt nên những sợi tơ bền chắc.

Chú thích ảnh
Sợi dứa (khóm) được phơi dưới ánh nắng tự nhiên trong khoảng 24 giờ trước khi giao cho đối tác. 

Biến phế phẩm thành nguồn thu nhập

Vùng khóm Cầu Đúc với lịch sử hơn 100 năm đã trở thành biểu tượng của vùng đất phèn mặn xã Hỏa Lựu. Tuy nhiên, hàng thập kỷ qua, sau mỗi chu kỳ thu hoạch trái từ 3 đến 4 năm, việc xử lý hàng chục nghìn tấn lá khóm già luôn là bài toán nan giải đối với nông dân. Phương thức truyền thống thường là phun thuốc diệt cỏ cháy để lá khô héo rồi đốt bỏ ngay tại cánh đồng.

Ông Phạm Văn Nương, ấp Mỹ Hiệp 1, xã Hỏa Lựu chia sẻ, trước đây, khi phá bỏ một vườn khóm già (thường sau 3 – 4 năm canh tác), nông dân phải tốn chi phí thuê người phun xịt thuốc cỏ cháy. Sau khoảng nửa tháng, khi lá đã khô héo, họ mới tiến hành đốt và dọn dẹp để lấy củ hủ, chuẩn bị cho vụ mới. Quy trình này không chỉ tốn kém chi phí hóa chất, công sức mà còn để lại hệ lụy nặng nề cho sức khỏe người lao động, làm ô nhiễm nguồn nước và hủy hoại hệ sinh thái đất vốn đã chịu nhiều áp lực của vùng đất phèn mặn.

Từ đầu tháng 7/2025, Hợp tác xã Sản xuất, thương mại, dịch vụ Cần Thơ Farm đã triển khai lắp đặt máy móc, thu mua lá khóm của người dân để sản xuất tơ sợi. Tuy nhiên, hiện nhiều hộ dân trồng khóm vẫn còn e dè khi mức giá thu mua chỉ khoảng 1.000 đồng/kg. Khi liên kết với hợp tác xã, thay vì xịt thuốc, người trồng khóm chỉ cần chặt lá tươi bán. Với mỗi công đất (1.000m2) trồng khoảng 3.000 bụi khóm, nông dân có thể thu về từ 2,5 đến 3 tấn lá (tương đường 2,5 – 3 triệu đồng/công) nhưng nhiều nhà vườn cho rằng “chặt lá bán như vậy là lỗ công”.

Chú thích ảnh
Sợi dứa (khóm) được cắt tỉa loại bỏ tạp chất trước khi đem phơi. 

Vì bài toán kinh tế, hiện vẫn chưa nhiều nông dân trồng khóm “mặn mà” hợp tác bán lá khóm nhưng Hợp tác xã Sản xuất, thương mại, dịch vụ Cần Thơ Farm vẫn không bỏ cuộc. Để có nguồn nguyên liệu ép sợi, ngoài thu gom lá ở các vườn trồng khóm tại địa phương, hợp tác xã mở rộng thu mua ở các tỉnh lân cận.

Để đáp ứng yêu cầu khắt khe của ngành dệt may, quy trình chế biến tại xưởng của Hợp tác xã Sản xuất, thương mại, dịch vụ Cần Thơ Farm được vận hành qua 5 công đoạn chính. Theo ông Phạm Văn Nương, lá khóm đạt chuẩn phải là lá của cây khóm Cầu Đúc từ 3 đến 4 năm tuổi, chiều dài tối thiểu đạt 45cm. Những lá non hoặc lá từ vườn bị ngập nước thường không đủ độ dai để tách sợi.

Tại xưởng sản xuất, lá khóm tươi được đưa vào máy làm dập để loại bỏ 80% mạt lá. Sau đó, công nhân sắp xếp thẳng hàng để đưa vào máy tuốt sợi. Sợi sau khi tuốt được cắt tỉa tạp chất, xịt rửa kỹ bằng nước sạch rồi đưa vào máy ly tâm sấy khô. Công đoạn cuối cùng là phơi dưới ánh nắng tự nhiên trong khoảng 24 giờ trước khi giao cho đối tác.

Chú thích ảnh
Hoạt động sản xuất tại xưởng của Hợp tác xã Sản xuất, thương mại, dịch vụ Cần Thơ Farm.

Từ thực tế sản xuất cho thấy, trung bình 60kg lá khóm tươi sẽ cho ra 1kg sợi khô. Hiện tại, Hợp tác xã Sản xuất, thương mại, dịch vụ Cần Thơ Farm đang bán sợi thô cho Công ty EcoFarm với mức giá từ 160.000 đến 170.000 đồng/kg. Đây là nguồn nguyên liệu được ưa chuộng để sản xuất các loại vải cao cấp, thân thiện với môi trường, phục vụ phân khúc thời trang xanh trên thế giới.

Bên cạnh giá trị kinh tế trực tiếp, xưởng sản xuất đang tạo việc làm ổn định cho 9 lao động địa phương với mức thu nhập từ 250.000 đến 300.000 đồng/ngày. Đây là mức thu nhập khá tốt tại khu vực nông thôn, giúp nhiều gia đình ổn định cuộc sống mà không phải ly hương cầu thực.

Mỗi ngày, xưởng xử lý từ 1,8 đến 2 tấn lá khóm tươi, góp phần đáng kể vào việc giải quyết bài toán thừa dư phụ phẩm tại địa phương. Dù quy mô hiện tại còn khiêm tốn và máy móc đang trong quá trình hoàn thiện, nhưng hợp tác xã luôn trong tình trạng “cháy hàng”. Doanh nghiệp đối tác sẵn sàng thu mua toàn bộ sản lượng sợi làm ra, cho thấy tiềm năng cực lớn của loại nguyên liệu xanh này trong xu thế thời trang bền vững của thế giới.

Tầm nhìn chiến lược cho thương hiệu dứa 100 năm tuổi

Tổng diện tích khóm trên địa bàn xã Hỏa Lựu là 2.175 ha, năng suất 16,5 tấn/ha , sản lượng 1.897,5 tấn. Ông Nguyễn Thanh Phong, Bí thư xã Hỏa Lựu nhấn mạnh, chính quyền địa phương xác định cây khóm chiếm tới 90% diện tích sản xuất nông nghiệp toàn xã. Việc thành lập hợp tác xã sản xuất sợi từ lá khóm vào ngày 1/7/2025 là bước đi chiến lược nhằm nâng cao đời sống người dân và tối ưu hóa chuỗi giá trị nông sản.

Chú thích ảnh
Sợi dứa (khóm) được rửa kĩ bằng nước sạch trước khi đưa vào máy ly tâm sấy khô. 

“Chúng tôi không chỉ dừng lại ở việc tận dụng phụ phẩm. Trong nhiệm kỳ 2026 – 2030, Đảng ủy xã đã đề ra nghị quyết phát triển nông nghiệp gắn với công nghiệp chế biến và du lịch miệt vườn. Đặc biệt, xã đang phối hợp với các doanh nghiệp lớn như Nutifood để cải tạo giống khóm truyền thống sang giống MD2 đạt tiêu chuẩn xuất khẩu toàn cầu”, ông Phong cho biết thêm.

Để giải quyết bài toán thiếu hụt nguyên liệu do việc canh tác còn nhỏ lẻ, xã Hỏa Lựu đang đẩy mạnh liên kết vùng với các địa phương lân cận như xã Vĩnh Viễn và các vùng trồng khóm tại tỉnh An Giang. Mục tiêu là hình thành vùng nguyên liệu tập trung quy mô lớn, ứng dụng khoa học công nghệ để giảm chi phí đầu vào và đảm bảo đầu ra ổn định thông qua các hợp đồng bao tiêu dài hạn.

Lợi thế của vùng khóm Cầu Đúc nằm ở chất đất đặc thù – thấm nước tốt, giúp cây khóm có độ bền và tuổi thọ cao, kết hợp với điều kiện phèn mặn mùa khô đã tạo nên hương vị khóm Cầu Đúc ngọt thanh, ít nước, nổi tiếng xa gần. Đây chính là tiền đề để địa phương thu hút đầu tư vào Cụm công nghiệp 50ha trên địa bàn, tập trung vào lĩnh vực chế biến sâu để xuất khẩu các sản phẩm từ trái và sợi khóm.

Chính quyền xã Hỏa Lựu cam kết sẽ tiếp tục tranh thủ các nguồn lực hỗ trợ từ cấp trên để giúp Hợp tác xã Sản xuất, thương mại, dịch vụ Cần Thơ Farm mở rộng quy mô, đồng thời đẩy mạnh tuyên truyền để 100% hộ dân hiểu và tham gia vào chuỗi liên kết.

Chú thích ảnh
Sợi dứa (khóm) là loại nguyên liệu xanh trong xu thế thời trang bền vững của thế giới. 

Dù chặng đường phía trước còn nhiều khó khăn về công nghệ và việc thay đổi thói quen của toàn bộ cộng đồng, nhưng với sự đồng lòng của chính quyền, sự quyết tâm của Hợp tác xã Sản xuất, thương mại, dịch vụ Cần Thơ Farm và sự ủng hộ của người dân, sợi tơ từ lá khóm chắc chắn sẽ còn vươn xa, dệt nên tương lai tươi sáng cho vùng đất phèn mặn Hỏa Lựu.

Theo TTXVN

Đầu tư mạnh các mô hình ‘biến chất thải thành tiền’

An Giang ưu tiên các nguồn lực, thu hút đầu tư nhằm đẩy mạnh việc sử dụng các phế, phụ phẩm trong sản xuất nông nghiệp để sản xuất phân bón hữu cơ.

Hiện nay, việc sử dụng phân bón vô cơ (hóa học) trong sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam đã tăng rất nhanh, đang phải đối mặt với tình trạng thiếu hụt nguyên liệu và có nhu cầu sử dụng phân bón rất lớn. Bộ NN-PTNT và các tỉnh ĐBSCL đang khuyến khích doanh nghiệp, HTX và bà con nông dân tận dụng rơm rạ, tro trấu, lục bình, phân chuồng (trâu, bò, gà vịt, heo), phụ phẩm nông sản, phụ phẩm thủy sản từ nhà máy chế biến sẵn có rất phong phú để làm phân bón hữu cơ phục vụ lại cho cây trồng.

Chất thải trong nuôi thủy sản là một trong những tiềm năng rất lớn để tận dụng làm phân bón hữu cơ. Ảnh: Lê Hoàng Vũ.
Chất thải trong nuôi thủy sản là một trong những tiềm năng rất lớn để tận dụng làm phân bón hữu cơ. Ảnh: Lê Hoàng Vũ.

Việc tận dụng phụ phẩm nông nghiệp để sản xuất phân hữu cơ vừa giúp giảm chi phí đầu vào trong sản xuất, cải thiện dinh dưỡng đất lâu dài, từ đó tạo ra sản phẩm nông sản an toàn, bền vững, đồng thời giảm tác động tiêu cực tới môi trường.

Theo TS Châu Thị Đa, nghiên cứu viên Khoa Khoa học ứng dụng (Trường Đại học Tôn Đức Thắng – TP.HCM), việc sử dụng phân hữu cơ được sản xuất từ nguồn phụ phẩm nông nghiệp – thủy sản trộn với các nguyên liệu hữu cơ khác tại địa phương vừa là giải pháp giảm thiểu ô nhiễm trong khu vực, vừa là tiềm năng lớn để cải thiện đất nông nghiệp.

An Giang là tỉnh phát triển nuôi trồng thủy sản lớn, đứng nhất nhì ở ĐBSCL với hàng trăm ao nuôi cá tra có diện tích khoảng 1.200ha/năm. Các chất lơ lửng trong ao nuôi cá tra như phân cá, bùn thải đáy ao nuôi cá tra được hút nạo vét 2 tháng/lần trong chu kỳ nuôi (6 tháng) là lượng chất thải lớn có thể tận dụng để làm phân hữu cơ. Đặc biệt trong ao nuôi cá, bùn thải từ các đáy ao thủy sản thâm canh rất giàu chất hữu cơ, ni tơ, phốt pho và các chất dinh dưỡng đa lượng, vi lượng.

An Giang đang triển khai một số mô hình tận dụng rơm rạ để chế biến thành phân hữu cơ phục vụ lại cho cây trồng. Ảnh: Lê Hoàng Vũ.
An Giang đang triển khai một số mô hình tận dụng rơm rạ để chế biến thành phân hữu cơ phục vụ lại cho cây trồng. Ảnh: Lê Hoàng Vũ.

“Việc tận dụng và tái sử dụng bùn thải giàu dinh dưỡng từ phân cá, bùn thải ao nuôi, xác cá chết phối trộn với phụ phẩm nông nghiệp, cùng với các nguyên liệu sẵn có khác ở địa phương để sản xuất phân bón hữu cơ vi sinh là một trong những thách thức và cũng là giải pháp tiềm năng có thể làm giảm sự phụ thuộc vào phân bón hóa học. Từ đó giúp địa phương giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường, mang lại lợi ích kinh tế, góp phần sản xuất nông nghiệp bền vững trong tương lai”, TS Châu Thị Đa đề xuất.

Bà Lê Thị Cẩm Tiên, Chủ tịch HĐQT, Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Phân bón Bioway Hitech cho biết, hiện công ty đang áp dụng công nghệ hiện đại để xử lý phế phụ phẩm trong sản xuất nông nghiệp thành phân bón hữu cơ phục vụ lại cho cây trồng, vừa giúp cây xanh tốt, ít sâu bệnh, vừa hạn chế sử dụng phân, thuốc hóa học. Bên cạnh đó, phân bón hữu cơ vừa giúp bảo vệ môi trường và sức khỏe cộng đồng, vừa cho ra nông sản đạt yêu cầu an toàn thực phẩm cho người tiêu dùng.

Để có sản phẩm phân bón hữu cơ phục vụ nông dân, công ty còn đưa ra 5 chủng vi sinh để biến các sản phẩm thực vật bỏ đi thành phân hữu cơ có ích thông qua công nghệ Bioway ủ phân compost dạng kín, xử lý phế phụ phẩm hữu cơ thành phân bón hữu cơ qua quá trình lên men siêu tốc, nhiệt độ cao chỉ trong 6 giờ. Công nghệ ủ phân Bioway sẽ tạo ra các nhóm vi sinh vật cố định đạm, phân giải lân, phân giải cellulose, giúp tăng quang hợp, đối kháng…

Sản xuất phân bón hữu cơ tại Công ty Cổ phần Phân bón Bioway Hitech. Ảnh: Lê Hoàng Vũ.
Sản xuất phân bón hữu cơ tại Công ty Cổ phần Phân bón Bioway Hitech. Ảnh: Lê Hoàng Vũ.

Ông Trương Kiến Thọ, Phó Giám đốc Sở NN-PTNT An Giang cho biết, công nghệ hữu cơ và tuần hoàn là chiến lược quan trọng của nông nghiệp Việt Nam. Việc tận dụng phụ, phế phẩm nông, lâm, thủy sản được tỉnh ủng hộ thực hiện. UBND tỉnh An Giang đã giao Sở NN-PTNT phối hợp với Công ty Antesco và Bioway Hitech nghiên cứu xây dựng nhà máy chế biến phân bón hữu cơ trên địa bàn huyện Chợ Mới, trên cơ sở vùng nguyên liệu của Antesco.

Bên cạnh đó, ngành nông nghiệp An Giang phối hợp Sở KH-CN tỉnh triển khai đề tài nghiên cứu sử dụng phụ phế phẩm nông nghiệp, thủy sản trên nền tảng Bioway Hitech. Từ đó thử nghiệm, đề xuất đề tài cơ sở để đánh giá phân hữu cơ, thử nghiệm trên các sản phẩm chiến lược như rau màu, cây ăn trái.

“Để lan rộng sử dụng phân hữu cơ, ngành nông nghiệp đề nghị sử dụng nguồn vốn khoa học công nghệ trong xây dựng nông thôn mới triển khai các mô hình Bioway Hitech, trước mắt phối hợp với Antesco thử nghiệm sử dụng phụ phẩm đậu nành rau, cây bắp để làm phân hữu cơ. Đối với các địa phương khác có yêu cầu, cần lên danh mục, tập hợp lại để thực hiện, biến chất thải thành tiền, ít tốn chi phí xử lý, tạo ra sản phẩm phân hữu cơ phục vụ lại cho cây trồng”, ông Trương Kiến Thọ đề nghị.

Theo nongnghiepmoitruong.vn