Mô hình sản xuất tơ sợi từ lá dứa (khóm) tại xã Hỏa Lựu, thành phố Cần Thơ đang trở thành một điển hình về kinh tế tuần hoàn.
Mô hình này đã giúp người dân mở ra hướng đi mới, biến phụ phẩm nông nghiệp thành nguồn nguyên liệu quý giá để dệt nên những sợi tơ bền chắc.
Sợi dứa (khóm) được phơi dưới ánh nắng tự nhiên trong khoảng 24 giờ trước khi giao cho đối tác.
Biến phế phẩm thành nguồn thu nhập
Vùng khóm Cầu Đúc với lịch sử hơn 100 năm đã trở thành biểu tượng của vùng đất phèn mặn xã Hỏa Lựu. Tuy nhiên, hàng thập kỷ qua, sau mỗi chu kỳ thu hoạch trái từ 3 đến 4 năm, việc xử lý hàng chục nghìn tấn lá khóm già luôn là bài toán nan giải đối với nông dân. Phương thức truyền thống thường là phun thuốc diệt cỏ cháy để lá khô héo rồi đốt bỏ ngay tại cánh đồng.
Ông Phạm Văn Nương, ấp Mỹ Hiệp 1, xã Hỏa Lựu chia sẻ, trước đây, khi phá bỏ một vườn khóm già (thường sau 3 – 4 năm canh tác), nông dân phải tốn chi phí thuê người phun xịt thuốc cỏ cháy. Sau khoảng nửa tháng, khi lá đã khô héo, họ mới tiến hành đốt và dọn dẹp để lấy củ hủ, chuẩn bị cho vụ mới. Quy trình này không chỉ tốn kém chi phí hóa chất, công sức mà còn để lại hệ lụy nặng nề cho sức khỏe người lao động, làm ô nhiễm nguồn nước và hủy hoại hệ sinh thái đất vốn đã chịu nhiều áp lực của vùng đất phèn mặn.
Từ đầu tháng 7/2025, Hợp tác xã Sản xuất, thương mại, dịch vụ Cần Thơ Farm đã triển khai lắp đặt máy móc, thu mua lá khóm của người dân để sản xuất tơ sợi. Tuy nhiên, hiện nhiều hộ dân trồng khóm vẫn còn e dè khi mức giá thu mua chỉ khoảng 1.000 đồng/kg. Khi liên kết với hợp tác xã, thay vì xịt thuốc, người trồng khóm chỉ cần chặt lá tươi bán. Với mỗi công đất (1.000m2) trồng khoảng 3.000 bụi khóm, nông dân có thể thu về từ 2,5 đến 3 tấn lá (tương đường 2,5 – 3 triệu đồng/công) nhưng nhiều nhà vườn cho rằng “chặt lá bán như vậy là lỗ công”.
Sợi dứa (khóm) được cắt tỉa loại bỏ tạp chất trước khi đem phơi.
Vì bài toán kinh tế, hiện vẫn chưa nhiều nông dân trồng khóm “mặn mà” hợp tác bán lá khóm nhưng Hợp tác xã Sản xuất, thương mại, dịch vụ Cần Thơ Farm vẫn không bỏ cuộc. Để có nguồn nguyên liệu ép sợi, ngoài thu gom lá ở các vườn trồng khóm tại địa phương, hợp tác xã mở rộng thu mua ở các tỉnh lân cận.
Để đáp ứng yêu cầu khắt khe của ngành dệt may, quy trình chế biến tại xưởng của Hợp tác xã Sản xuất, thương mại, dịch vụ Cần Thơ Farm được vận hành qua 5 công đoạn chính. Theo ông Phạm Văn Nương, lá khóm đạt chuẩn phải là lá của cây khóm Cầu Đúc từ 3 đến 4 năm tuổi, chiều dài tối thiểu đạt 45cm. Những lá non hoặc lá từ vườn bị ngập nước thường không đủ độ dai để tách sợi.
Tại xưởng sản xuất, lá khóm tươi được đưa vào máy làm dập để loại bỏ 80% mạt lá. Sau đó, công nhân sắp xếp thẳng hàng để đưa vào máy tuốt sợi. Sợi sau khi tuốt được cắt tỉa tạp chất, xịt rửa kỹ bằng nước sạch rồi đưa vào máy ly tâm sấy khô. Công đoạn cuối cùng là phơi dưới ánh nắng tự nhiên trong khoảng 24 giờ trước khi giao cho đối tác.
Hoạt động sản xuất tại xưởng của Hợp tác xã Sản xuất, thương mại, dịch vụ Cần Thơ Farm.
Từ thực tế sản xuất cho thấy, trung bình 60kg lá khóm tươi sẽ cho ra 1kg sợi khô. Hiện tại, Hợp tác xã Sản xuất, thương mại, dịch vụ Cần Thơ Farm đang bán sợi thô cho Công ty EcoFarm với mức giá từ 160.000 đến 170.000 đồng/kg. Đây là nguồn nguyên liệu được ưa chuộng để sản xuất các loại vải cao cấp, thân thiện với môi trường, phục vụ phân khúc thời trang xanh trên thế giới.
Bên cạnh giá trị kinh tế trực tiếp, xưởng sản xuất đang tạo việc làm ổn định cho 9 lao động địa phương với mức thu nhập từ 250.000 đến 300.000 đồng/ngày. Đây là mức thu nhập khá tốt tại khu vực nông thôn, giúp nhiều gia đình ổn định cuộc sống mà không phải ly hương cầu thực.
Mỗi ngày, xưởng xử lý từ 1,8 đến 2 tấn lá khóm tươi, góp phần đáng kể vào việc giải quyết bài toán thừa dư phụ phẩm tại địa phương. Dù quy mô hiện tại còn khiêm tốn và máy móc đang trong quá trình hoàn thiện, nhưng hợp tác xã luôn trong tình trạng “cháy hàng”. Doanh nghiệp đối tác sẵn sàng thu mua toàn bộ sản lượng sợi làm ra, cho thấy tiềm năng cực lớn của loại nguyên liệu xanh này trong xu thế thời trang bền vững của thế giới.
Tầm nhìn chiến lược cho thương hiệu dứa 100 năm tuổi
Tổng diện tích khóm trên địa bàn xã Hỏa Lựu là 2.175 ha, năng suất 16,5 tấn/ha , sản lượng 1.897,5 tấn. Ông Nguyễn Thanh Phong, Bí thư xã Hỏa Lựu nhấn mạnh, chính quyền địa phương xác định cây khóm chiếm tới 90% diện tích sản xuất nông nghiệp toàn xã. Việc thành lập hợp tác xã sản xuất sợi từ lá khóm vào ngày 1/7/2025 là bước đi chiến lược nhằm nâng cao đời sống người dân và tối ưu hóa chuỗi giá trị nông sản.
Sợi dứa (khóm) được rửa kĩ bằng nước sạch trước khi đưa vào máy ly tâm sấy khô.
“Chúng tôi không chỉ dừng lại ở việc tận dụng phụ phẩm. Trong nhiệm kỳ 2026 – 2030, Đảng ủy xã đã đề ra nghị quyết phát triển nông nghiệp gắn với công nghiệp chế biến và du lịch miệt vườn. Đặc biệt, xã đang phối hợp với các doanh nghiệp lớn như Nutifood để cải tạo giống khóm truyền thống sang giống MD2 đạt tiêu chuẩn xuất khẩu toàn cầu”, ông Phong cho biết thêm.
Để giải quyết bài toán thiếu hụt nguyên liệu do việc canh tác còn nhỏ lẻ, xã Hỏa Lựu đang đẩy mạnh liên kết vùng với các địa phương lân cận như xã Vĩnh Viễn và các vùng trồng khóm tại tỉnh An Giang. Mục tiêu là hình thành vùng nguyên liệu tập trung quy mô lớn, ứng dụng khoa học công nghệ để giảm chi phí đầu vào và đảm bảo đầu ra ổn định thông qua các hợp đồng bao tiêu dài hạn.
Lợi thế của vùng khóm Cầu Đúc nằm ở chất đất đặc thù – thấm nước tốt, giúp cây khóm có độ bền và tuổi thọ cao, kết hợp với điều kiện phèn mặn mùa khô đã tạo nên hương vị khóm Cầu Đúc ngọt thanh, ít nước, nổi tiếng xa gần. Đây chính là tiền đề để địa phương thu hút đầu tư vào Cụm công nghiệp 50ha trên địa bàn, tập trung vào lĩnh vực chế biến sâu để xuất khẩu các sản phẩm từ trái và sợi khóm.
Chính quyền xã Hỏa Lựu cam kết sẽ tiếp tục tranh thủ các nguồn lực hỗ trợ từ cấp trên để giúp Hợp tác xã Sản xuất, thương mại, dịch vụ Cần Thơ Farm mở rộng quy mô, đồng thời đẩy mạnh tuyên truyền để 100% hộ dân hiểu và tham gia vào chuỗi liên kết.
Sợi dứa (khóm) là loại nguyên liệu xanh trong xu thế thời trang bền vững của thế giới.
Dù chặng đường phía trước còn nhiều khó khăn về công nghệ và việc thay đổi thói quen của toàn bộ cộng đồng, nhưng với sự đồng lòng của chính quyền, sự quyết tâm của Hợp tác xã Sản xuất, thương mại, dịch vụ Cần Thơ Farm và sự ủng hộ của người dân, sợi tơ từ lá khóm chắc chắn sẽ còn vươn xa, dệt nên tương lai tươi sáng cho vùng đất phèn mặn Hỏa Lựu.
An Giang ưu tiên các nguồn lực, thu hút đầu tư nhằm đẩy mạnh việc sử dụng các phế, phụ phẩm trong sản xuất nông nghiệp để sản xuất phân bón hữu cơ.
Hiện nay, việc sử dụng phân bón vô cơ (hóa học) trong sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam đã tăng rất nhanh, đang phải đối mặt với tình trạng thiếu hụt nguyên liệu và có nhu cầu sử dụng phân bón rất lớn. Bộ NN-PTNT và các tỉnh ĐBSCL đang khuyến khích doanh nghiệp, HTX và bà con nông dân tận dụng rơm rạ, tro trấu, lục bình, phân chuồng (trâu, bò, gà vịt, heo), phụ phẩm nông sản, phụ phẩm thủy sản từ nhà máy chế biến sẵn có rất phong phú để làm phân bón hữu cơ phục vụ lại cho cây trồng.
Chất thải trong nuôi thủy sản là một trong những tiềm năng rất lớn để tận dụng làm phân bón hữu cơ. Ảnh: Lê Hoàng Vũ.
Việc tận dụng phụ phẩm nông nghiệp để sản xuất phân hữu cơ vừa giúp giảm chi phí đầu vào trong sản xuất, cải thiện dinh dưỡng đất lâu dài, từ đó tạo ra sản phẩm nông sản an toàn, bền vững, đồng thời giảm tác động tiêu cực tới môi trường.
Theo TS Châu Thị Đa, nghiên cứu viên Khoa Khoa học ứng dụng (Trường Đại học Tôn Đức Thắng – TP.HCM), việc sử dụng phân hữu cơ được sản xuất từ nguồn phụ phẩm nông nghiệp – thủy sản trộn với các nguyên liệu hữu cơ khác tại địa phương vừa là giải pháp giảm thiểu ô nhiễm trong khu vực, vừa là tiềm năng lớn để cải thiện đất nông nghiệp.
An Giang là tỉnh phát triển nuôi trồng thủy sản lớn, đứng nhất nhì ở ĐBSCL với hàng trăm ao nuôi cá tra có diện tích khoảng 1.200ha/năm. Các chất lơ lửng trong ao nuôi cá tra như phân cá, bùn thải đáy ao nuôi cá tra được hút nạo vét 2 tháng/lần trong chu kỳ nuôi (6 tháng) là lượng chất thải lớn có thể tận dụng để làm phân hữu cơ. Đặc biệt trong ao nuôi cá, bùn thải từ các đáy ao thủy sản thâm canh rất giàu chất hữu cơ, ni tơ, phốt pho và các chất dinh dưỡng đa lượng, vi lượng.
An Giang đang triển khai một số mô hình tận dụng rơm rạ để chế biến thành phân hữu cơ phục vụ lại cho cây trồng. Ảnh: Lê Hoàng Vũ.
“Việc tận dụng và tái sử dụng bùn thải giàu dinh dưỡng từ phân cá, bùn thải ao nuôi, xác cá chết phối trộn với phụ phẩm nông nghiệp, cùng với các nguyên liệu sẵn có khác ở địa phương để sản xuất phân bón hữu cơ vi sinh là một trong những thách thức và cũng là giải pháp tiềm năng có thể làm giảm sự phụ thuộc vào phân bón hóa học. Từ đó giúp địa phương giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường, mang lại lợi ích kinh tế, góp phần sản xuất nông nghiệp bền vững trong tương lai”, TS Châu Thị Đa đề xuất.
Bà Lê Thị Cẩm Tiên, Chủ tịch HĐQT, Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Phân bón Bioway Hitech cho biết, hiện công ty đang áp dụng công nghệ hiện đại để xử lý phế phụ phẩm trong sản xuất nông nghiệp thành phân bón hữu cơ phục vụ lại cho cây trồng, vừa giúp cây xanh tốt, ít sâu bệnh, vừa hạn chế sử dụng phân, thuốc hóa học. Bên cạnh đó, phân bón hữu cơ vừa giúp bảo vệ môi trường và sức khỏe cộng đồng, vừa cho ra nông sản đạt yêu cầu an toàn thực phẩm cho người tiêu dùng.
Để có sản phẩm phân bón hữu cơ phục vụ nông dân, công ty còn đưa ra 5 chủng vi sinh để biến các sản phẩm thực vật bỏ đi thành phân hữu cơ có ích thông qua công nghệ Bioway ủ phân compost dạng kín, xử lý phế phụ phẩm hữu cơ thành phân bón hữu cơ qua quá trình lên men siêu tốc, nhiệt độ cao chỉ trong 6 giờ. Công nghệ ủ phân Bioway sẽ tạo ra các nhóm vi sinh vật cố định đạm, phân giải lân, phân giải cellulose, giúp tăng quang hợp, đối kháng…
Sản xuất phân bón hữu cơ tại Công ty Cổ phần Phân bón Bioway Hitech. Ảnh: Lê Hoàng Vũ.
Ông Trương Kiến Thọ, Phó Giám đốc Sở NN-PTNT An Giang cho biết, công nghệ hữu cơ và tuần hoàn là chiến lược quan trọng của nông nghiệp Việt Nam. Việc tận dụng phụ, phế phẩm nông, lâm, thủy sản được tỉnh ủng hộ thực hiện. UBND tỉnh An Giang đã giao Sở NN-PTNT phối hợp với Công ty Antesco và Bioway Hitech nghiên cứu xây dựng nhà máy chế biến phân bón hữu cơ trên địa bàn huyện Chợ Mới, trên cơ sở vùng nguyên liệu của Antesco.
Bên cạnh đó, ngành nông nghiệp An Giang phối hợp Sở KH-CN tỉnh triển khai đề tài nghiên cứu sử dụng phụ phế phẩm nông nghiệp, thủy sản trên nền tảng Bioway Hitech. Từ đó thử nghiệm, đề xuất đề tài cơ sở để đánh giá phân hữu cơ, thử nghiệm trên các sản phẩm chiến lược như rau màu, cây ăn trái.
“Để lan rộng sử dụng phân hữu cơ, ngành nông nghiệp đề nghị sử dụng nguồn vốn khoa học công nghệ trong xây dựng nông thôn mới triển khai các mô hình Bioway Hitech, trước mắt phối hợp với Antesco thử nghiệm sử dụng phụ phẩm đậu nành rau, cây bắp để làm phân hữu cơ. Đối với các địa phương khác có yêu cầu, cần lên danh mục, tập hợp lại để thực hiện, biến chất thải thành tiền, ít tốn chi phí xử lý, tạo ra sản phẩm phân hữu cơ phục vụ lại cho cây trồng”, ông Trương Kiến Thọ đề nghị.
Than dừa được làm chủ yếu từ gáo dừa – một phụ phẩm của ngành dừa. Xuất khẩu than dừa nói chung đang ngày càng tăng, mang nhiều ngoại tệ về cho đất nước.
Than hoạt tính từ than gáo dừa của Trabaco. Ảnh: Sơn Trang.
Hàng xuất khẩu từ phụ phẩm
Tại Hội nghị Quốc tế về ngành dừa (CocoNext 2024) vừa diễn ra tại tỉnh Bến Tre, nhiều sản phẩm từ dừa của Việt Nam như nước dừa, sữa dừa, dầu dừa … đã thu hút được sự quan tâm của đông đảo đại biểu trong và ngoài nước. Trong đó, các sản phẩm làm từ phụ phẩm dừa (xơ dừa, gáo dừa …) của Công ty Cổ phần Trà Bắc (Trabaco) cũng đã gây được ấn tượng với nhiều người. Có thể kể đến các sản phẩm như: than hoạt tính từ than gáo dừa, than sạch BBQ từ than gáo dừa, thảm xơ dừa, xơ dừa…
Có thể nói, Trabaco là một trong những doanh nghiệp đi tiên phong về sản xuất các sản phẩm có giá trị từ gáo dừa, xơ dừa – những thứ vốn chỉ được coi là phụ phẩm. Từ năm 1997 đến nay, Trabaco đã tập trung vào sản xuất than hoạt tính từ than gáo dừa. Đến nay, công ty có 5 nhà máy với tổng công suất chế biến than hoạt tính từ than gáo dừa là 7.000 tấn/năm, bên cạnh đó là than sạch BBQ từ than gáo dừa với tổng công suất 1.800 tấn/năm, xơ dừa đóng kiện 16.000 tấn/năm, thảm xơ dừa dệt kim 1,5 triệu m2/năm.
Riêng về sản phẩm than hoạt tính từ than gáo dừa, Trabaco đang là một trong những nhà sản xuất hàng đầu Việt Nam và thế giới. Than hoạt tính từ than gáo dừa của công ty đã xuất khẩu tới hơn 30 quốc gia và vùng lãnh thổ như Mỹ, Canada, Anh, Pháp, Đức, Hà Lan, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Úc… Sản phẩm này hiện đang được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực như lọc nước, lọc không khí, thu hồi vàng …
Thúc đẩy kinh tế tuần hoàn
Là sản phẩm từ phụ phẩm dừa, than dừa nói chung đã trở thành một trong những mặt hàng thương mại chính của ngành dừa toàn cầu và giá trị xuất khẩu ngày càng tăng. Theo ông Nuwan Chinthaka, Phó Chủ tịch Hiệp hội Dừa quốc tế, hiện nay, giá trị xuất khẩu than gáo dừa trên thế giới vào khoảng 1,09 tỷ USD, đứng thứ 5 sau nước dừa, dầu dừa, than dừa Shisa, xơ dừa và mụn dừa.
Than BBQ từ than gáo dừa. Ảnh: Sơn Trang.
Tại Việt Nam, trong năm 2023, giá trị xuất khẩu than dừa là 88,5 triệu USD, than hoạt tính từ than gáo dừa là gần 33 triệu USD.
Ông Nuwan Chinthaka cho rằng, tiềm năng đóng góp của than dừa Shisa vào kim ngạch xuất khẩu chung của ngành dừa Việt Nam có thể lên tới gần 100 triệu USD. Trên thị trường xuất khẩu các sản phẩm từ dừa toàn cầu, kim ngạch xuất khẩu than dừa Shisa hiện là 5,05 tỷ USD, đứng thứ 3 sau nước dừa và dầu dừa.
Theo một số chuyên gia quốc tế, ngoài than dừa, than hoạt tính từ than gáo dừa, các doanh nghiệp Việt Nam cũng cần quan tâm đẩy mạnh sản xuất và xuất khẩu than dừa Shisa, bởi sản phẩm này đang có nhu cầu lớn trên thị trường thế giới khi được sử dụng ngày càng nhiều trong các quán ăn, gia đình.
Việc tận dụng vỏ dừa, gáo dừa để làm than dừa, than hoạt tính từ gáo dừa, than dừa Shisa… đang góp phần tạo ra nguồn năng lượng sinh học bền vững, thúc đẩy kinh tế tuần hoàn trong ngành dừa, qua đó nâng cao giá trị kinh tế của cây dừa và cải thiện đáng kể về sinh kế cho nông dân trồng dừa ở nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam.
Tuy nhiên, để đẩy mạnh sản xuất, xuất khẩu các sản phẩm từ dừa, trong đó có các sản phẩm từ phụ phẩm dừa, các tỉnh có tiềm năng phát triển cây dừa cần hình thành vùng dừa nguyên liệu. Theo ông Huỳnh Khắc Nhu, Tổng Giám đốc Trabaco, nguồn nguyên liệu dừa đang nằm rải rác tại nhiều tỉnh, thành ở ĐBSCL, khiến cho doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc thu gom. Nhiều thời điểm, công ty phải nhập khẩu dừa từ Indonesia để đảm bảo nguồn nguyên liệu cho sản xuất than hoạt tính từ gáo dừa và các sản phẩm khác.
Tận dụng phế phẩm nông nghiệp, ông Nguyễn Văn Đức (SN 1961, xã Ea Tyh, huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk) đã chế biến thành thức ăn giàu dinh dưỡng cho gia súc.
Ông Đức hiện là Phó Giám đốc Công ty Cổ phần Xây dựng Quyết Thắng. Ngành nghề chính của công ty là xây dựng công trình kỹ thuật dân dụng, nhưng do làm ăn khó khăn nên năm 2004, công ty kinh doanh thêm nghề mua bán nông sản, song cũng không khá hơn là bao. Trong lúc công ty đang trên bờ phá sản, ông Đức (lúc ấy đang là nhân viên) đã tìm ra hướng đi mới là tái chế phế phẩm nông nghiệp.
Từng thành công trong việc tái sử dụng bã bia làm thức ăn cho heo vào năm 2006, ông Đức tiếp tục nghiên cứu bã mía. Ý tưởng này nhen nhóm trong lần ông xuống Long An (năm 2011) thấy người dân ủ bã mía làm thức ăn cho bò. Ngẫm địa phương mình có Nhà máy đường 333, mỗi năm thải ra một lượng lớn bã mía bỏ đi rất phí, ông về trình bày phương án thu mua, chế biến phế phẩm và được công ty đồng ý, nhưng ngặt nỗi không có vốn.
Cùng ban lãnh đạo gom tiền thử sức với lĩnh vực mới, ông Đức được giao giữ chức Phó Giám đốc phụ trách mọi hoạt động kinh doanh của công ty. Khởi đầu vốn ít, công ty chủ yếu thuê xe đi gom bã mía về phơi khô rồi bán cho đối tác. Năm 2014, ông Đức mạnh dạn đầu tư máy móc thực hiện công đoạn chế biến sâu: Bã mía sau khi mua về sẽ đổ đống để trong kho kín suốt 1 năm. Theo thời gian bã mía lên men tự nhiên, phân hủy cho mùi thơm, vị ngọt như mật; bã mía đã hoai mục được sấy khô, ép thành miếng vuông hoặc viên nén làm thức ăn cho gia súc.
Ông Nguyễn Văn Đức giới thiệu sản phẩm viên nén được chế biến từ bã mía.
“Chỉ tính riêng 6 tháng đầu năm 2019, công ty đã mua 3 nghìn tấn cây bắp tương ứng số tiền hơn 3 tỷ đồng; 5 nghìn tấn bã mía tương đương hơn 2 tỷ đồng. Hiện các sản phẩm viên nén, phế phẩm lên men đang được nhiều doanh nghiệp chăn nuôi bò sữa, bò thịt đặt mua với số lượng lớn”.
Ông Nguyễn Văn Đức, Phó Giám đốc Công ty cổ phần Xây dựng Quyết Thắng thông tin thêm
Để tiết kiệm tối đa chi phí đầu tư, ông Đức tìm tòi nghiên cứu, mua vật liệu về chế tạo thành máy ép bã mía. Từ khi lấn sân sang lĩnh vực thu mua, chế biến phế phẩm nông sản sau thu hoạch, công ty đã thoát khỏi cảnh nợ nần, tạo công ăn việc làm cho nhiều lao động địa phương.
Có đối tác là các doanh nghiệp kinh doanh về chăn nuôi, buôn bán, chế biến thức ăn gia súc như Công ty Cổ phần chăn nuôi bò thịt – Bò sữa Cao Nguyên, Công ty Cổ phần chăn nuôi Gia Lai, Công ty TNHH Kim Nghĩa… nên ông Đức không quá lo lắng về đầu ra sản phẩm. Song song với việc tái chế bã mía, công ty còn thu mua cây bắp về cắt nhỏ, ủ chua bán cho các trang trại nuôi bò.
Thời gian đầu việc thu mua cây bắp gặp nhiều khó khăn bởi người dân đã quen với việc trồng bắp lấy hạt. Khi đặt vấn đề mua cây bắp còn tươi xanh và nguyên cả trái non thì không ít người hoài nghi, ông Đức phải giải thích cặn kẽ, nêu rõ địa chỉ nhà máy… người dân mới tin.
Kiên trì hơn 1 năm, công ty đã có nguồn nguyên liệu ổn định. Cây bắp còn nguyên trái sau khi mua về đưa vào máy cắt nhỏ từ 3 – 5 cm, đóng bao, hút chân không nhằm giữ độ tươi xanh và để được thời gian dài mà không bị hỏng mốc. Giá thu mua cây bắp tại ruộng dao động theo mùa. Mùa khô có giá 800 – 900 đồng/kg, còn mùa mưa là 500 – 600 đồng/kg. Ông Đức chia sẻ, chi phí đầu tư, chăm sóc bắp bán cây thấp, thời gian thu hoạch cũng được rút ngắn từ 15 – 20 ngày. Điều người dân thích nhất là họ không phải tốn nhân công thu hoạch và dọn rẫy vì người của công ty sẽ tự làm tất cả. Giá bán cả cây bắp luôn ổn định, lợi nhuận thu về cao hơn 500 nghìn đồng/sào so với trồng bắp lấy hạt.
Cây bắp tươi nguyên trái được cắt nhỏ, ủ men làm thức ăn cho bò.
Từ chỗ các phế phẩm nông nghiệp bị bỏ đi, hoặc bị đốt sau khi thu hoạch đã được Công ty cổ phần Xây dựng Quyết Thắng mua làm nguyên liệu sản xuất thức ăn chăn nuôi. Trung bình mỗi năm, công ty thu mua hàng nghìn tấn phế phẩm nông nghiệp. Việc tái chế phế phẩm nông nghiệp vừa giúp người dân tăng thêm thu nhập, giảm ô nhiễm môi trường…
Tình trạng đốt rơm rạ tự phát mỗi khi vào mùa vụ thu hoạch sẽ làm trầm trọng thêm tình trạng ô nhiễm môi trường, nhất là ô nhiễm không khí và ảnh hưởng đến sức khỏe của người dân. Để ngăn chặn và kiểm soát tình trạng này, cần có những giải pháp thay thế hiệu quả, bền vững.
Trong những lúc cao điểm của mùa gặt tại các tỉnh miền Bắc, phần lớn rơm, rạ sau thu hoạch được bà con xử lý bằng cách đốt, có nơi lên đến 90%. Khắp các ngả đường từ làng quê đến thành phố, cứ vào khoảng 4 – 5 giờ chiều lại được bao trùm bằng khói bụi do người dân tranh thủ đốt rơm rạ sau vụ thu hoạch. Đặc biệt, thời điểm này là đỉnh điểm của nắng nóng oi bức ở miền Bắc hoà quện cùng khói bụi từ từ đốt rơm rạ đã khiến cho không khí càng ngột ngạt hơn.
Những nỗ lực từ chính quyền
Để giải quyết bài toán ô nhiễm môi trường không khí, gây mất an toàn giao thông do việc đốt rơm rạ, phụ phẩm nông nghiệp sau thu hoạch, hàng năm các địa phương đều ban hành công văn về việc hạn chế tình trạng đốt rơm rạ sau thu hoạch.
Điển hình như ở Hà Nội, để kiểm soát các hoạt động này, năm 2024, TP. Hà Nội cũng đã có công văn số 79/UBND-TNMT về việc tăng cường các biện pháp quản lý nhà nước đối với hoạt động đốt rơm rạ, các phụ phẩm cây trồng trên địa bàn Hà Nội.
Nhằm giảm thiểu tình trạng đốt rơm rạ, nhiều địa phương đã xây dựng và thực hiện mô hình xử lý rơm rạ thành phân hữu cơ.
Công văn nêu rõ, Sở Tài nguyên và Môi trường Hà Nội tiếp tục giám sát, tổng hợp kết quả thực hiện Chỉ thị số 15/CT-UBND ngày 18/9/2020 của UBND thành phố về việc tăng cường các biện pháp quản lý nhà nước đối với hoạt động đốt rơm rạ, các phụ phẩm cây trồng và chất thải khác không đúng quy định nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường thành phố.
Tại tỉnh Thừa Thiên – Huế, ngày 22/4/2024, UBND Thành phố Huế đã ban hành Công văn số 3501/UBND-NN về việc hạn chế tình trạng đốt rơm rạ sau thu hoạch. Theo đó, để khẩn trương chỉ đạo, giải quyết xử lý dứt điểm tình trạng đốt rơm, rạ sau thu hoạch, UBND Thành phố chỉ đạo UBND 36 phường, xã tiếp tục tăng cường thực hiện các giải pháp hạn chế đốt rơm rạ sau thu hoạch lúa trên địa bàn theo tinh thần Chỉ thị số 11/CT-UBND ngày 17/4/2020 của Chủ tịch UBND tỉnh. Đồng thời, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến về tác hại đốt rơm rạ trên đồng ruộng, vận động người dân ký cam kết không đốt rơm rạ sau thu hoạch theo nội dung Công văn số 3305/UBND-NN ngày 15/4/2024 của UBND Thành phố; thường xuyên kiểm tra, xử lý các trường hợp đốt rơm rạ trên đồng ruộng, trên đường giao thông, gây cản trở và làm mất an toàn giao thông trên địa bàn quản lý.
Chủ tịch UBND tỉnh đề nghị 36 phường, xã chịu trách nhiệm trước Chủ tịch UBND Thành phố trong việc để người dân đốt rơm rạ sau thu hoạch. Phòng Văn hóa và Thông tin phối hợp Sở Thông tin và Truyền thông thiết lập đường dây nóng và triển khai ứng dụng Hue-S để tiếp nhận phản ánh của các cá nhân, tổ chức đốt rơm rạ trên đồng ruộng để kịp thời có biện pháp xử lý. UBND Thành phố giao Phòng Kinh tế thành phố hướng dẫn UBND 36 phường, xã, các HTX nông nghiệp áp dụng cơ giới hóa (máy cuộn rơm…) trong thu gom vận chuyển rơm, rạ; khuyến cáo nông dân ứng dụng các chế phẩm sinh học xử lý rơm rạ sau thu hoạch thành phân bón hữu cơ phục vụ nông nghiệp, góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường.
Tại Nam Định, ngày 8/5/2024, UBND tỉnh cũng có văn bản gửi các sở, ngành TN-MT, NN và PTNT, GT-VT, KH-CN, Công an tỉnh, Ủy ban MTTQ tỉnh và các tổ chức đoàn thể, UBND các huyện, thành phố trong tỉnh, về việc tăng cường thực hiện các biện pháp giảm thiểu và xử lý việc đốt rơm rạ, rác thải không đúng quy định.
Đặc biệt, tại tỉnh Vĩnh Phúc, UBND tỉnh đã có chính sách hỗ trợ chế phẩm vi sinh xử lý rơm rạ trên cây lúa giai đoạn 2022 – 2024. Cụ thể, năm 2024, tỉnh hỗ trợ hơn 14 tỉ đồng để mua chế phẩm vi sinh xử lý rơm rạ trên đồng ruộng sau khi thu hoạch lúa vụ xuân chuyển sang vụ mùa, giao cho Trung tâm Khuyến nông làm đơn vị đầu mối thực hiện, cấp phát 140.000kg chế phẩm xử lý cho diện tích 5.000ha.
Những huyện trọng điểm về lúa như Yên Lạc, Vĩnh Tường được hỗ trợ 1.000ha; những huyện có diện tích lúa nhỏ hơn như: Bình Xuyên, Sông Lô, Tam Đảo, Tam Dương, Lập Thạch được hỗ trợ từ 500-750ha; những thành phố như Phúc Yên, Vĩnh Yên được hỗ trợ 100ha. Quy trình kỹ thuật để xử lý rơm rạ bằng chế phẩm vi sinh cũng được Trung tâm phổ biến cho các địa phương và nông dân.
Cụ thể, sau khi thu hoạch lúa, nông dân cho nước vào ruộng giữ ở mức 2-3 cm, bón vôi, dùng máy phay qua một lần cho dập gốc rạ, sau đó dùng chế phẩm vi sinh rải đều trên mặt với số lượng 1 kg/sào, nâng mực nước thêm, giữ ở mức 7-10 cm trong vòng 10-15 ngày rồi bừa, bón lót, gieo cấy.
Việc xử lý vi sinh phân hủy rơm rạ giúp tiết kiệm phân bón, cải tạo đất, giảm ô nhiễm môi trường do đốt rơm rạ
Việc xử lý vi sinh phân hủy rơm rạ không chỉ giúp tiết kiệm phân bón, cải tạo đất, giảm ô nhiễm môi trường do đốt rơm rạ mà còn giúp cây lúa phát triển nhanh, bộ rễ khỏe, đẻ nhánh tập trung, không bị hiện tượng nghẹt rễ, vàng lá sinh lý, giảm bớt việc sử dụng thuốc BVTV hóa học.
Tại Khoản 1 Điều 41 của Nghị định số 45/2022/NĐ-CP của Chính phủ quy định: Phạt tiền từ 2.500.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với hành vi đốt ngoài trời phụ phẩm từ cây trồng cạnh khu vực dân cư, sân bay, các tuyến giao thông chính.
TS. Hoàng Dương Tùng – Chủ tịch Mạng lưới không khí sạch Việt Nam, nguyên Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Môi trường.
Chia sẻ về vấn đề này, TS. Hoàng Dương Tùng, Chủ tịch Mạng lưới Không khí sạch Việt Nam, nguyên Phó Tổng Cục trưởng Tổng cục Môi trường (Bộ TN&MT) cho biết: “Đốt rơm, rạ sau thu hoạch gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Khi đốt rơm rạ sẽ gây ra bụi mịn PM2.5, khói và các chất độc khác đi kèm. Việc di chuyển của khối ô nhiễm, bụi mịn sau khi đốt rơm rạ lan tỏa ra các vùng xung quanh rất rõ rệt. Tình trạng này không chỉ diễn ra ở Việt Nam mà nó còn diễn ra ở rất nhiều nước khác. Trước kia, bà con còn lấy rơm rạ cho trâu bò ăn hay để đun nấu. Tuy nhiên, hiện nay kinh tế phát triển, việc bà con lấy rơm rạ về đun nấu đã không còn nhiều. Chính vì vậy, tình trạng đốt rơm rạ ngày càng phổ biến hơn. Để giải quyết tình trạng này, nhiều địa phương cũng đã áp dụng các biện pháp như: Mua chế phẩm sinh học để ủ phân vi sinh, trồng nấm, dùng trong trong việc trồng cây thanh long,…. Tuy nhiên, những biện pháp này không được bền vững mà mới chỉ được áp dụng lẻ tẻ”.
Cũng theo ông Tùng, các giải pháp đưa ra cần phù hợp với từng vùng, từng địa phương và cần có sự vào cuộc không chỉ của cơ quan quản lý về môi trường, mà cả các ban ngành quản lý về kinh tế, nông nghiệp, nhà doanh nghiệp. Không chỉ dừng lại ở việc tuyên truyền, vận động.
“Người nông dân thu nhập từ thu hoạch lúa gạo thấp, vì vậy rất cần có sự hỗ trợ của nhà nước, nhà khoa học, nhà doanh nghiệp. Nghiên cứu áp dụng công nghệ số vào để có thể vừa giải quyết được vấn đề này mà vừa hợp với lòng dân. Nếu chỉ áp dụng giải pháp hành chính, xử phạt, xử lý… thì không căn cơ, khó xử lý dứt điểm đôi khi sẽ gây ra những khó dễ nhất định cho cả người dân và người đi xử lý”, TS Tùng nhấn mạnh.
Cần sự thay đổi tư duy của các cơ quan chức năng, nhà quản lý môi trường về vai trò của rơm rạ. Rơm rạ là phần phụ phẩm của hoạt động nông nghiệp nhưng không phải là phế thải mà cần coi đó là nguồn tài nguyên. Nếu biết cách sử dụng hiệu quả rơm rạ, vừa có thể biến rơm rạ thành nguồn nguyên liệu mới như làm phân bón hữu cơ, phân bón nhả chậm, sử dụng làm thức ăn chăn nuôi hay trồng nấm…Khi đó, nó sẽ trở thành một yếu tố quan trọng của vòng kinh tế tuần hoàn, mang lại sự phát triển bền vững cho ngành nông nghiệp nước nhà.
“Chỉ khi nhận thức được vai trò, ý nghĩa của rơm rạ, chính quyền địa phương mới có thể dành sự quan tâm, tập trung nguồn lực cho các biện pháp xử lý rơm rạ thay thế bền vững. Ngoài việc tập huấn, hướng dẫn bà con về các kỹ thuật xử lý rơm rạ phù hợp với trình độ, nhận thức của người nông dân, các địa phương cũng cần thành lập Quỹ hỗ trợ kinh phí mua các chế phẩm thực hiện các giải pháp xử lý rơm rạ mới, để bà con yên tâm thực hiện. Ngoài ra, việc tạo ra các đầu mối thu mua các sản phẩm đầu ra từ hoạt động trồng nấm, phân bón sản xuất từ rơm rạ, cũng là cách tạo nguồn thu nhập ổn định, cho bà con thấy được lợi ích so sánh so với hoạt động đốt tự phát”, TS Tùng cho hay.
Còn theo PGS. TS Bùi Thị An – Đại biểu quốc hội khóa XIII, Viện trưởng Viện Tài nguyên Môi trường và Phát triển cộng đồng: “Để giải quyết tình trạng này, Hội Nông dân hay Hội Phụ nữ cũng nên có cách hướng dẫn cho bà con cách xử lý dễ nhất sau thu hoạch. Đặc biệt nên có cơ chế khuyến cáo và có sự hỗ trợ cho bà con trong việc xử lý”.
Những mô hình xử lý hiệu quả
Thay vì đốt, nhiều nông dân đã và đang xử lý rơm rạ bằng các giải pháp thân thiện với môi trường và gia tăng giá trị kinh tế cho rơm. Các giải pháp đang được áp dụng nhiều ở các địa phương hiện nay có thể kể đến như: Sử dụng chế phẩm vi sinh học để xử lý tại ruộng hoặc làm phân bón, hay thu cuốn rơm mang về để trồng nấm, làm thức ăn cho gia súc… Đó là các giải pháp thực hiện có hiệu quả.
Các hoạt động bao gồm: đào tạo nhóm nông dân nòng cốt; triển khai truyền thông thông qua các kênh trực tuyến hội nhóm và trực tiếp; hướng dẫn kỹ thuật và thực hành các giải pháp xử lý; hỗ trợ ngân sách cho các địa phương, hợp tác xã, nông dân tiếp cận các giải pháp như chế phẩm sinh học hay thu cuốn rơm… Từ đây, nhiều mô hình nhỏ, sáng kiến hay của các địa phương đã được khuyến khích triển khai.
Mô hình xử lý rơm rạ thành phân bón hữu cơ
Nhằm giảm thiểu tình trạng đốt rơm rạ nhiều địa phương đã xây dựng và thực hiện mô hình xử lý rơm rạ thành phân hữu cơ. Với thời gian ủ ngắn (45 ngày), từ khoảng 5 tạ rơm rạ cộng với phân gia súc, gia cầm… có thể làm thành 1 tấn phân hữu cơ phục vụ cho sản xuất cây trồng và hoa màu. Giải pháp này dễ thực hiện, giá thành rẻ, người dân cũng có thể áp dụng để xử lý các phụ phẩm nông nghiêp khác như thân cây chuối, ngô, đu đủ, hoa,… chuyển thành phân hữu cơ.
Mô hình xử lý rơm rạ thành phân bón hữu cơ
Mô hình xử lý rơm rạ bằng việc rắc chế phẩm sinh học
Nhiều địa phương đã sử dụng có hiệu quả mô hình việc xử lý rơm rạ bằng chế phẩm sinh học.
Việc này tạo điều kiện để các phụ phẩm nông nghiệp được phân hủy bởi các vi sinh vật và giun có trong đất dưới sự hỗ trợ của chế phẩm vi sinh vật, biến thành chất điều hòa đất và phân hữu cơ tại chỗ. Đất sẽ trở nên mềm, màu mỡ, giàu chất dinh dưỡng và sinh khối, tăng năng suất cho các vụ mùa tiếp theo.
Theo bà con nông dân, việc xử lý rơm, rạ bằng chế phẩm sinh học đem lại lợi ích kép cho nông dân, vừa bảo vệ môi trường vừa tiết kiệm chi phí sản xuất nhờ nguồn phân hữu cơ. So với những nơi đốt rơm rạ tại ruộng, ruộng được xử lý bằng chế phẩm sinh học tiết kiệm được 2 lần phun thuốc trừ bệnh vàng lá và nghẹt rễ sinh lý; giảm được 30% lượng phân lân cho bón lót và 15% lượng N-P-K bón thúc lần đầu. Bên cạnh đó, việc xử lý rơm rạ sau thu hoạch bằng chế phẩm sinh học khá đơn giản, chỉ cần trộn đều chế phẩm với cát, đất, hoặc phân bón, dải đều khắp ruộng. Sau từ 13 đến 15 ngày, rơm và gốc rạ tự phân hủy, ngấu trong đất.
Mô hình chế biến thức ăn cho trâu bò, gia súc
Để tận dụng nguồn rơm lúa sau thu hoạch, có những địa phương đã triển khai mô hình sử dụng máy cuốn rơm và sử dụng rơm cuộn để chế biến làm thức ăn cho trâu bò, gia súc.
Phương pháp chế biến rơm ủ u-rê đơn giản và dễ thực hiện. Hơn nữa, rơm rạ sau khi chế biến có thể cho bò ăn thoải mái, không sợ bị ngộ độc. Bò được ăn loại rơm này lớn nhanh, béo khoẻ, ngay cả trong vụ đông xuân thiếu cỏ tươi.
Có những địa phương đã triển khai mô hình sử dụng máy cuốn rơm và sử dụng rơm cuộn
Mô hình tận dụng rơm rạ trồng nấm
Hay có những địa phương tận dụng rơm rạ để trồng nấm, nhiều hộ nông dân đã có thêm công việc mới.
Đặc biệt, giá thể sau khi thu hoạch nấm có thể được sử dụng để bón trực tiếp cho cây ăn quả, hoa hồng… và không gây ô nhiễm môi trường.
Mô hình xử lý rơm rạ bằng thu cuốn rơm để sử dụng
Nhận thấy một số lợi ích khi mang rơm rạ ra khỏi đồng ruộng, nông dân nhiều nơi đã chủ động thu gom rơm thành các cuốn rơm khô, gọn và nhẹ bằng cách thủ công hoặc sử dụng máy cuốn. Tuy nhiên, máy cuốn rơm chỉ hoạt động hiệu quả tại các khu vực đồng ruộng khô, chân ruộng cao. Trước khi áp dụng máy thu cuốn, cần lưu ý cắt sát gốc rạ khi gặt.
Khi thu cuốn rơm, phần lớn rơm bên trên sẽ được thu gom, phần gốc rạ sẽ còn lại bên dưới và nằm trong đất. Điều đó cũng khắc phục được việc để lại quá nhiều rơm trên ruộng làm cho đất bị dư thừa chất hữu cơ dễ gây sâu bệnh cho cây trồng vụ sau. Với gốc rạ còn lại trên đồng, các đơn vị khuyến nông khuyến khích sử dụng thêm chế phẩm vi sinh học để xử lý làm phân bón hữu cơ. Việc này vừa tránh làm chua đất, vừa gia tăng chất hữu cơ cho cây trồng/vụ sau đó. Đối với rơm thu được, đây sẽ là đầu vào cho các hoạt động sản xuất khác như trồng nấm, làm thức ăn gia xúc, làm đệm lót sinh học, làm các sản phẩm thủ công, làm nhiên liệu sinh học.
Mỗi nhóm giải pháp sẽ sử dụng các công nghệ khác nhau phù hợp với điều kiện cụ thể của từng địa phương, từ hạn chế can thiệp, sử dụng chế phẩm sinh học hay các máy móc nông nghiệp… Áp dụng các kỹ thuật nói trên sẽ tăng giá trị của rơm rạ. Các giải pháp này có thể áp dụng đa dạng từ quy mô lớn cho doanh nghiệp, hợp tác xã cho đến cả các nông hộ nhỏ lẻ.
Để nâng cao hiệu quả sử dụng rơm rạ, Nhà nước cần hỗ trợ các nghiên cứu đẩy nhanh việc đưa máy móc phục vụ công tác thu gom rơm ở miền Bắc. Cụ thể, cần đưa vào sử dụng các loại máy cuốn rơm quy mô nhỏ, vận chuyển linh hoạt, phù hợp với điều kiện đồng ruộng miền Bắc; Nghiên cứu máy cắt gốc rạ kết hợp với máy cuốn rơm để tăng tỷ lệ thu gom rơm rạ.
Ngoài ra, Nhà nước cần hỗ trợ nghiên cứu lợi nhuận của các khâu trong chuỗi giá trị thu gom, sản xuất và sử dụng các sản phẩm từ rơm tại từng địa phương. Căn cứ vào kết quả nghiên cứu sẽ đề xuất chính sách nhằm hỗ trợ hình thành chuỗi giá trị thu gom, sản xuất và tiêu thụ các sản phẩm từ rơm tại các địa bàn cụ thể trên miền Bắc và miền Trung
Hỗ trợ, hoàn thiện các công nghệ sử dụng rơm để sản xuất làm thức ăn chăn nuôi, phân bón hữu cơ, trồng nấm, làm viên năng lượng… nhằm đa dạng hóa các sản phẩm từ rơm, giúp ổn định thị trường và tăng giá trị lợi nhuận.
Đối với gốc rạ, việc thu gom rất khó khăn và chi phí cao. Do vậy, cần định hướng nghiên cứu để giúp người dân xử lý gốc rạ tại ruộng để làm phân bón hữu cơ, hạn chế hiện tượng đốt đồng. Nhà nước cần hỗ trợ các nghiên cứu sử dụng các chế phẩm sinh học nhằm phân hủy nhanh gốc rạ ngoài đồng để làm phân bón hữu cơ. Việc áp dụng cơ giới hóa nhằm tăng cường tỷ lệ thu gom rơm giúp giảm khối lượng gốc rạ cần phải xử lý trên đồng ruộng, qua đó giảm những tác hại về sâu bệnh, ngộ độc hữu cơ cho cây trồng cũng như phát thải khí nhà kính do để lại nhiều gốc rạ trên đồng ruộng.
Từ rơm rạ, vỏ cà phê đến bã mía, phụ phẩm nông nghiệp đang được tái sinh thành tài nguyên mới, mở ra hành trình xanh hóa và giảm phát thải cho ngành trồng trọt.
Mùa gặt ở Đồng bằng sông Hồng, khói rơm rạ không còn phủ trắng những con đê như vài năm trước. Thay vào đó, các xe thu gom nối đuôi nhau chở rơm đến nhà máy sản xuất phân hữu cơ ở Ninh Bình, Hưng Yên, Hải Phòng hay tới những trang trại chăn nuôi bò sữa.
Ở Đồng bằng sông Cửu Long, vỏ trấu và bã mía được ép thành viên nén sinh học xuất khẩu sang Nhật Bản. Hàng chục năm trước, những thứ ấy bị xem là rác thải nông nghiệp nhưng hôm nay chúng đã trở thành nguồn tài nguyên mới của nông nghiệp tuần hoàn.
Người dân phối trộn rơm rạ cùng các loại phân tạo thành phân bón hữu cơ. Ảnh: Bảo Thắng.
Khái niệm tuần hoàn vốn không xa lạ với nông dân Việt Nam. Trong quá khứ, người ta vẫn quen tận dụng phụ phẩm làm chất đốt, thức ăn chăn nuôi hoặc bón lại cho ruộng. Nhưng trong thời đại phát thải thấp, nông nghiệp tuần hoàn đã được nâng lên một tầm mới: một mô hình sản xuất khép kín, không bỏ phí tài nguyên và không tạo thêm gánh nặng cho môi trường.
Điều này càng trở nên cấp bách khi nông nghiệp Việt Nam mỗi năm thải ra hàng trăm triệu tấn phụ phẩm, theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường. Riêng trồng trọt tạo ra khoảng 160 triệu tấn phụ phẩm (rơm rạ, thân ngô, vỏ cà phê, bã mía, vỏ điều, phân gia súc…), tương đương 20% tổng phát thải khí metan của quốc gia.
Những năm gần đây, phụ phẩm, chất thải trong nông nghiệp đã biến thành “vàng” khi được tận dụng làm phân hữu cơ, vật liệu sinh học, nhiên liệu tái tạo và nguyên liệu cho công nghiệp chế biến. Tại Ninh Bình, nhiều mô hình thu gom rơm rạ sau thu hoạch do Trung tâm Khuyến nông tỉnh này triển khai đã giúp giảm 80% hiện tượng đốt đồng, mỗi hecta thu về 1,5 – 2 triệu đồng từ bán rơm.
Niềm vui càng nhân lên từ mô hình do Viện Nghiên cứu Lúa gạo Quốc tế (IRRI) phối hợp với Hợp tác xã Sản xuất Kinh doanh và Dịch vụ nông nghiệp Nam Cường (Ninh Bình) thực hiện từ giữa năm 2024. Theo đó, người dân được tập huấn xử lý rơm rạ làm phân hữu cơ theo công thức rơm trộn tỷ lệ 60% với phân bò 30% và đất 10, phun men vi sinh, ủ khoảng 45 ngày với độ ẩm 50 – 60 % và nhiệt độ khoảng 50 – 70 °C.
Kết hợp máy trộn tự hành có công suất 138 – 300 m³/lần, thời gian ủ rút xuống bằng một nửa phương pháp truyền thống. Ủ tốt sẽ đạt tỷ lệ C/N khoảng 13 – 14,5 và pH 6,8 – 7,2, sau đó sản phẩm được ép viên hoặc đóng gói sử dụng trực tiếp trên đồng ruộng.
Những cách tận dụng phế phụ phẩm như vậy xuất hiện ngày một nhiều. Tại Sóc Trăng, mô hình “3 lợi ích” – không đốt rơm, sản xuất phân hữu cơ và trồng rau màu luân canh giúp giảm phát thải hơn 5 tấn CO₂ mỗi hecta. Tại Đắk Lắk, các hợp tác xã cà phê đầu tư dây chuyền ủ vỏ quả và bã cà phê thành phân vi sinh, vừa tiết kiệm chi phí, vừa cải tạo đất. Những chu trình khép kín như vậy đang lan rộng trên khắp vùng trồng trọt, từ đồng bằng đến trung du, từ cây lúa đến cây công nghiệp.
Máy phối trộn rơm rạ do IRRI tài trợ tại Ninh Bình. Ảnh: Bảo Thắng.
Theo Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, nếu 50% phụ phẩm nông nghiệp được xử lý và tái sử dụng hiệu quả, Việt Nam có thể giảm khoảng 40 triệu tấn CO₂ mỗi năm. Đây là một trong những biện pháp quan trọng để thực hiện cam kết Net Zero 2050. Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã đưa nông nghiệp tuần hoàn vào chiến lược tăng trưởng xanh với mục tiêu đến năm 2030 ít nhất 30% phụ phẩm nông nghiệp được thu gom và tái chế, trong đó 20% dùng làm phân hữu cơ, 10% dùng làm nhiên liệu sinh học.
Trên thực tế, nhiều địa phương đã chứng minh điều đó là khả thi. Ở Đồng Nai, các trang trại bò sữa của Vinamilk và TH True Milk áp dụng mô hình “từ đồng cỏ đến ly sữa”. Cỏ được trồng bằng phân hữu cơ ủ từ chất thải bò, chất thải lỏng được xử lý thành biogas, phần bã còn lại làm phân cho cây trồng. Mô hình này giúp tiết kiệm 25% chi phí đầu vào, đồng thời giảm phát thải metan.
Ở Bắc Ninh, nhiều hợp tác xã đã tận dụng phụ phẩm chăn nuôi kết hợp trồng cây ăn quả, hình thành chuỗi “3F tuần hoàn” (Feed – Farm – Fruit). Ở An Giang và Tây Ninh, chương trình “Không đốt rơm rạ – giữ khí trời trong lành” được người dân hưởng ứng mạnh khi họ nhận thấy đốt rơm vừa lãng phí, vừa gây ngạt bụi cho chính mình.
Quan trọng hơn những con số là sự thay đổi trong tư duy. Nông dân giờ không còn xem phụ phẩm là thứ bỏ đi mà là phần nối dài của vụ mùa. Khi rơm rạ được thu gom để sản xuất phân, người ta nói “cánh đồng sống thêm một vòng”. Khi vỏ cà phê, bã mía trở thành nguyên liệu công nghiệp, người ta nói “đất đã học cách tái sinh”. Trong mỗi quy trình khép kín ấy, không chỉ có kinh tế mà còn là đạo lý của nghề nông – trả lại cho đất những gì mình lấy đi.
Để thúc đẩy quá trình này, các viện nghiên cứu đang phát triển công nghệ ủ nhanh, lên men vi sinh và sản xuất phân bón sinh học từ phụ phẩm. Viện Môi trường Nông nghiệp đang phối hợp với JICA và FAO thử nghiệm quy trình sản xuất than sinh học từ rơm rạ, giúp tăng khả năng giữ ẩm và hấp thu dinh dưỡng của đất. Bộ Nông nghiệp và Môi trường cũng khuyến khích hình thành các cụm “trung tâm chế biến phụ phẩm nông nghiệp” ở từng vùng chuyên canh, nơi doanh nghiệp, hợp tác xã và nông dân cùng tham gia. Mục tiêu không chỉ là giảm phát thải mà còn tạo thêm ngành nghề mới, việc làm mới ở nông thôn.
Thách thức vẫn còn, đặc biệt ở khâu thu gom và đầu tư hạ tầng xử lý. Phụ phẩm trồng trọt thường phân tán, khối lượng lớn nhưng giá trị thấp, khó vận chuyển xa. Cần cơ chế khuyến khích tín chỉ carbon, ưu đãi thuế cho doanh nghiệp chế biến sinh khối và hướng dẫn kỹ thuật cho nông dân. Những thành công ban đầu cho thấy hướng đi này rất khả quan.
Từ ruộng đồng đến nhà máy, từ rơm rạ đến viên nén sinh học, hành trình biến phụ phẩm thành tài nguyên đang viết tiếp câu chuyện bền vững của nông nghiệp Việt Nam. Đó cũng là cách con người thay đổi mối quan hệ với tự nhiên, tôn trọng, tái tạo và cùng tồn tại. Sau 80 năm, ngành trồng trọt và bảo vệ thực vật không chỉ biết cách làm ra của cải mà còn biết giữ gìn sức khỏe của đất, của cây và của môi trường.
Phát huy hiệu quả tính cộng sinh và tái chế, quá trình xây dựng hệ nông nghiệp sinh thái có thể mang lại sinh kế, cũng như thu nhập cho nhiều người.
Một mô hình trồng rau ứng dụng công nghệ tưới tiên tiến ở Hà Nội.
Cộng sinh các thành tố
Nếu tính đa dạng là chìa khóa cho quá trình chuyển đổi nông nghiệp sinh thái quan hệ cộng sinh giúp tăng cường các chức năng chính của hệ thống lương thực thực phẩm. Thông qua việc tối ưu hóa quan hệ cộng sinh, thực hành nông nghiệp sinh thái giúp tăng cường các chức năng sinh thái, và tăng hiệu quả sử dụng tài nguyên và khả năng chống chịu.
Quan hệ cộng sinh trong nông nghiệp sinh thái vốn được con người sử dụng từ ngàn đời này thông qua hình thức cố định ni tơ sinh học bằng cây họ đậu trong các hệ thống xen canh hoặc luân canh. Theo FAO, cách làm này giúp tiết kiệm khoảng 10 triệu USD tiền phân đạm mỗi năm, trong khi vẫn góp phần đảm bảo sức khỏe đất. Một cách làm nữa, là khoảng 15% phân đạm dùng cho cây trồng có nguồn gốc từ phân gia súc. Đây cũng là quan hệ cộng sinh trong nông nghiệp sinh thái, dựa trên kết hợp cây trồng – vật nuôi. Tại Việt Nam, quan hệ cộng sinh phổ biến hiện nay là mô hình trồng lúa – nuôi tôm, đang thịnh hành tại nhiều vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
Từ quan hệ cộng sinh, các thành tố trong hệ nông nghiệp sinh thái sẽ xử lý hiệu quả hơn chất thải, cũng có nghĩa tái chế nhiều hơn. Bằng cách bắt chước hệ sinh thái tự nhiên, thực hành nông nghiệp sinh thái thúc đẩy tái chế chất dinh dưỡng, sinh khối và nước trong hệ thống sản xuất, qua đó tăng hiệu quả sử dụng tài nguyên.
Tái chế nhiều hơn đồng nghĩa với sản xuất nông nghiệp với chi phí kinh tế và môi trường thấp hơn. Nó có thể diễn ra ở quy mô trang trại và trong toàn bộ cảnh quan, thông qua đa dạng hóa và xây dựng quan hệ cộng sinh giữa các thành phần. Một ví dụ được Nhóm khởi nghiệp Tháp rau hữu cơ Eco Việt Nam ứng dụng là tháp rau hữu cơ, nhằm tận dụng các thùng phuy nhựa.
Tháp rau hữu cơ Eco cao gần ngang ngực người lớn.
Ông Trần Đình Khâm, thành viên nhóm cho biết, tháp mặc định có 6 tầng, thiết kế theo phương thẳng đứng, khi trồng chiếm diện tích mỗi tháp khoảng 1m2 nhưng sản lượng rau thu hoạch tương đương với 4 – 5m2 mặt phẳng.
Sự đặc biệt của tháp rau hữu cơ Eco chính là lõi vi sinh và các bộ phận đi kèm như khay chắn rác và khay đựng dịch trà trùn (một loại nước tưới giàu dinh dưỡng). Lõi vi sinh có đường kính 15cm, cao xấp xỉ 1m, mỗi tháng xử lý được khoảng 30kg rác hữu cơ tươi nhờ nguyên lý ủ compost và sự hoạt động tích cực từ trùn (giun) và hệ vi sinh tự nhiên trong đất.
Lõi vi sinh này đóng vai trò như cơ quan tiêu hóa của tháp rau, khi rác phân hủy là thức ăn nuôi trùn. Nước rác phân hủy, nước dịch trùn và nước tưới dư chảy xuống dưới được thu lại bởi khay đựng dịch trà trùn, và được người trồng dùng để tưới lại trực tiếp cho rau.
Trùn ăn rác hữu cơ hoai mục ra đất sống, vừa đào xới giúp đất tơi xốp, vừa thải phân trùn khắp nơi làm tăng độ màu mỡ của đất. Sau khoảng 3 tháng, rác hữu cơ trong lõi tháp được xử lý thành phân hữu cơ, và có thể sử dụng để bón lại cho tháp.
Nhờ nguyên lý tuần hoàn tự nhiên này, người trồng tháp rau hữu cơ Eco không cần bón phân, thay đất. Càng trồng đất lại càng tốt và màu mỡ. Đặc biệt, lõi tháp còn đóng vai trò tạo ra dòng không khí luân chuyển trong đất, cộng thêm đất tơi xốp nhờ trùn di chuyển nên đất luôn rất giàu oxi, giúp cho rễ cây dễ dàng hấp thụ oxi và khoáng chất. Cây phát triển nhanh hơn.
Chu trình dinh dưỡng chiếm khoảng 51% giá trị kinh tế của tất cả các dịch vụ gián tiếp từ hệ sinh thái, và việc tái chế giúp mang lại nhiều lợi ích cho các chu trình dinh dưỡng, giúp giảm phụ thuộc vào tài nguyên bên ngoài.
Mô hình tháp rau hữu cơ trên nóc một tòa nhà chung cư.
Nguồn thu kinh tế
Quan điểm nông nghiệp sinh thái không chỉ hữu ích tại nông thôn, hoặc những nơi có diện tích rộng, mà còn có thể xây dựng ngay tại đô thị. Ở Việt Nam, nhiều nóc nhà rộng hàng trăm m2 được lợp mái tôn. Theo quan điểm nông nghiệp sinh thái, những nóc nhà có thể được sử dụng để xử lý một lượng lớn rác hữu cơ, bởi theo thống kê, 65 – 70% lượng rác thải sinh hoạt là rác hữu cơ có thể xử lý tại nhà an toàn.
Với chi phí cho tiền rau trung bình hàng tháng của mỗi hộ gia đình tại Hà Nội, TP.HCM khoảng 1,2 – 1,5 triệu đồng (theo tiêu chuẩn rau hữu cơ sạch), những người trồng tháp rau hữu cơ không những giải quyết được vấn đề môi trường, mà hoàn toàn có thể tạo ra thu nhập từ 5 – 10 triệu đồng/tháng, sau khi trừ đi chi phí.
Một lợi thế nữa của người dân khi ứng dụng mô hình này là không tốn chi phí bán hàng, nhưng lại bán được với giá bán lẻ. Khi ứng dụng nông nghiệp sinh thái vào đô thị, người dân có thể đạt được lợi ích kép: vừa bảo vệ môi trường, vừa có thêm một khoản thu nhập.
Từ 1/1/2022, Luật Môi trường mới chính thức có hiệu lực. Người dân đổ rác bị tính phí theo khối lượng (dự kiến vào đầu năm 2024 sẽ áp dụng triệt để). Tháp rau hữu cơ Eco lúc này không chỉ mang lại nguồn rau hữu cơ chuẩn mà còn là một nhà máy xử lý rác thu nhỏ, hàng tháng tiết kiệm cả trăm nghìn đồng.
Đó cũng là những thành tố cuối cùng mà nông nghiệp sinh thái mang lại – giá trị nhân văn và xã hội. Thông qua những mô hình canh tác thông minh, tiên tiến, giải quyết được vấn đề tại chỗ, nông nghiệp sinh thái tạo nhiều cơ hội việc làm hơn cho phụ nữ, đảm bảo chế độ ăn uống đa dạng và sức khỏe, trao nhiều quyền hơn cho mọi người và cộng đồng để vượt qua đói nghèo.
Ở nhiều nơi trên thế giới, thanh niên nông thôn thiếu việc làm. Nông nghiệp sinh thái dựa vào một cách thức sản xuất nông nghiệp khác, chẳng hạn canh tác rau hữu cơ bằng thùng phuy nhựa như tháp rau Eco, giúp thanh thiếu niên phát huy tính sáng tạo, cũng như giải quyết được các khó khăn về nguồn vốn đầu tư ban đầu.
Ở Ethiopia, trung bình một gia đình cần khoảng 4kg củi mỗi ngày để chế biến thức ăn, dựa trên thực tế là khoảng 80% thực phẩm con người sử dụng cần được nấu chín. Trong các cuộc khủng hoảng, khả năng tiếp cận các nguồn năng lượng để nấu ăn và sưởi ấm thường bị hạn chế nghiêm trọng.
Việc thu gom củi đốt quá mức xung quanh khu vực các trại tị nạn có thể làm giảm độ che phủ rừng và suy thoái môi trường. Từ đó dẫn đến tăng khả năng phải hứng chịu các hiểm họa tự nhiên và biến đổi khí hậu, gây thêm áp lực cho các cộng đồng tiếp nhận người tị nạn vốn dễ bị tổn thương.
Trước tình thế ấy, FAO đã đề ra chính sách và đang hỗ trợ trực tiếp hơn 50.000 hộ gia đình tị nạn ở Ethiopia thông qua các can thiệp về thu gom nhiên liệu và sử dụng năng lượng để nấu nướng, sưởi ấm và sử dụng cho mục đích sản xuất.
Bốn hành động chính được FAO áp dụng. Một, đảm bảo nguồn cung năng lượng ổn định bằng quản lý tài nguyên thiên nhiên bền vững, và sản xuất năng lượng sinh học thay thế. Hai, tăng cường cung cấp nhiên liệu gỗ bằng cách lồng ghép các chương trình trồng cây đa mục đích. Ba, thúc đẩy áp dụng các công nghệ đun nấu, sưởi ấm tiết kiệm năng lượng ở cấp hộ gia đình, có thể sản xuất và bán trong nước. Bốn, giảm bớt gánh nặng cho phụ nữ bằng cách giảm khoảng cách họ phải đi kiếm củi hàng ngày.
Với phương châm đưa thực phẩm chay ra thế giới, Công ty Vương Ngọc Vegan đã biến những quả điều, loại quả được xem như phế phẩm trong nông nghiệp, thành nước mắm chay hảo hạng.
Bên trong nhà máy sản xuất nước mắm từ quả điều của Công ty Vương Ngọc Vegan Ảnh: Trần Trung
Dù cây điều không phải là sản phẩm chủ lực, với sự sáng tạo, người dân Tây Ninh đã biến những thứ “không thể thành có thể”. Những chai nước mắm được chế biến từ những quả điều tưởng chừng như bỏ đi đã được người tiêu dùng đón nhận và từng bước có chỗ đứng trên thị trường.
Là một trong những đơn vị hàng đầu trong sản xuất thực phẩm chay, nhận thấy tiềm năng từ quả điều, Công ty TNHH Vương Ngọc Vegan ở thị xã Hòa Thành (tỉnh Tây Ninh) đã dành nhiều tâm huyết biến chúng thành thực phẩm chay đặc trưng. Nhờ sản xuất bài bản, khoa học, kết hợp bí quyết ủ gia truyền và công nghệ hiện đại khép kín, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, những chai nước mắm của Vương Ngọc Vegan không chỉ phục vụ thị trường trong nước mà còn xuất sang các thị trường khó tính như Mỹ và EU.
Chị Âu Vương Ngọc, Giám đốc Công ty TNHH Vương Ngọc Vegan, chia sẻ, Việt Nam là một trong những quốc gia đứng đầu thế giới về trồng và xuất khẩu nhân điều. Tuy nhiên, phần hạt điều được sử dụng chỉ là phần nhỏ của quả điều nhô ra, trong khi phần lớn quả điều chưa được tận dụng hiệu quả, thậm chí bị vứt bỏ. Đây là nguồn tài nguyên vô tận, để biến phế phẩm này thành lợi nhuận không hề đơn giản, nhưng Vương Ngọc Vegan đã làm được điều đó.
“Quả điều thuộc nhóm có sự tăng mạnh cường độ hô hấp sau khi thu hoạch. Phần thịt quả điều chứa rất nhiều axít và dễ bị kết tủa khi để ngoài môi trường. Dịch quả chín chứa 85% là nước, với hàm lượng đường chiếm 8-10%, chủ yếu là đường khử. Ngoài ra, polyphenol trong dịch quả điều gây vị đắng gắt và tannin tồn dư cũng là thách thức lớn. Tuy nhiên, bằng phương pháp riêng, chúng tôi đã thành công”, chị Ngọc chia sẻ.
Những chai nước mắm chay hảo hạng của Vương Ngọc không chỉ phục vụ thị trường trong nước mà rộng cửa xuất khẩu. Ảnh: Trần Trung.
Để tạo ra 100 lít nước mắm điều nguyên chất cần đến 300kg quả điều tươi, chín mọng được tuyển chọn kỹ càng. Quá trình sản xuất trải qua các bước xử lý sơ bộ như rửa sạch, cắt nhỏ, phối trộn với lượng muối chính xác rồi ủ lên men. Sau 4 tháng, nước mắm nhỉ được phối hợp với một số phụ gia theo công thức gia truyền để cho ra đời những chai nước mắm đạt chuẩn.
Vì quả điều chỉ thu hoạch theo mùa vụ, công ty đã ký hợp đồng bao tiêu sản phẩm quả điều tươi cho người trồng điều địa phương và các tỉnh lân cận với giá 3.000 đồng/kg. Đồng thời, công ty chuyển giao kỹ thuật ủ và hỗ trợ trang thiết bị ủ ngay tại vườn, giúp giảm chi phí sản xuất và nâng cao chất lượng sản phẩm. Công ty mua lại nước mắm thô với giá 50.000 đồng/lít, giúp người nông dân tăng thu nhập lên đến 20 triệu đồng/vụ/ha.
“Hiện dây chuyền sản xuất của công ty đạt khoảng 150.000 chai nước mắm/ngày. Ngoài nước mắm điều, công ty còn phát triển thêm các sản phẩm như nước mắm đông cô, nước mắm thơm và một số loại trái cây đặc trưng khác, đảm bảo dây chuyền hoạt động xuyên suốt và đủ công suất”, chị Ngọc chia sẻ.
Với phương châm “Ăn chay nhớ ngay Vương Ngọc”, sản phẩm của công ty hiện có mặt tại hầu hết siêu thị và cửa hàng thực phẩm trên toàn quốc. Hướng tới mục tiêu đưa sản phẩm nông nghiệp Việt Nam ra thế giới, công ty đã xuất khẩu thành công sang Mỹ và EU. Đồng thời, Vương Ngọc Vegan đang hoàn thiện thủ tục xin chứng nhận Halal để xuất khẩu sang các nước Hồi giáo và nâng công suất sản xuất lên 2 triệu lít nước mắm/năm.
Công ty từng bước bắt tay liên kết thu mua bao tiêu sản phẩm trái điều cho người dân trong và ngoài địa phương, giúp bà con làm giàu. Ảnh: Trần Trung.
Ông Nguyễn Đình Xuân, Giám đốc Sở NN-PTNT tỉnh Tây Ninh, nhấn mạnh, Việt Nam là một nước nông nghiệp, với lượng phế phẩm, phụ phẩm trong quá trình chế biến rất lớn và đa dạng. Nếu tận dụng triệt để, những phế phẩm này sẽ trở thành nguồn tài nguyên tái tạo, không chỉ bảo vệ môi trường mà còn mang lại giá trị kinh tế, xã hội to lớn.
“Trong ngành sản xuất điều hiện nay, quả điều thường được xem là phế phẩm. Không chỉ riêng Vương Ngọc Vegan, bất kỳ doanh nghiệp nào tận dụng hiệu quả quả điều chúng tôi đều hoan nghênh”, ông Nguyễn Đình Xuân khẳng định.
Từ những phụ phẩm nông nghiệp, nhiều nông dân ở Quảng Ngãi đã ngâm ủ thành phân bón hữu cơ, giúp giảm chi phí, bảo vệ môi trường và nâng cao giá trị nông sản.
Những năm gần đây, phong trào sản xuất nông nghiệp theo hướng hữu cơ đã lan rộng tại nhiều địa phương ở Quảng Ngãi. Không chỉ thay đổi tập quán canh tác truyền thống, nông dân còn tận dụng tối đa nguồn phụ phẩm sẵn có để ngâm ủ thành dung dịch phân bón hữu cơ, góp phần tiết kiệm chi phí, nâng cao năng suất, tạo ra những sản phẩm an toàn cho người tiêu dùng.
Những năm qua, nhiều hộ dân ở Quảng Ngãi đã sử dụng các phụ phẩm từ nông nghiệp để ngâm ủ thành phân bón hữu cơ. Ảnh: L.K.
Tại xã Nghĩa Hà, ông Tiêu Văn Cầm (trú thôn Sung Túc) được xem là người tiên phong trong việc trồng rau hữu cơ. Ông chủ động sử dụng phân chuồng ủ hoai kết hợp với dung dịch hữu cơ tự chế để bón cho rau thay vì dùng phân hóa học. “Loại dung dịch này dễ làm, bổ sung dinh dưỡng rất tốt mà chi phí cũng rẻ nhiều lần so với phân bón hóa học. 1 sào rau chỉ tốn khoảng 500.000 đồng nhưng có thể tưới được 3 lứa”, ông Cầm chia sẻ.
Công thức ủ phân mà ông Cầm áp dụng gồm 1 lít mật mía, thân rễ chuối cắt lát, 3kg bã đậu nành, 3kg bã lạc, 6 hũ sữa chua và 10 lít nước. Sau 10 ngày ngâm ủ, dung dịch chuyển màu vàng cánh gián, có mùi thơm men rượu, có thể dùng để tưới hoặc phun định kỳ mỗi tuần một lần cho rau. Nhờ cách làm này, vườn rau của ông luôn xanh tốt, cho sản lượng ổn định, giá bán từ 10.000 – 15.000 đồng/kg, đặc biệt luôn có đầu ra ổn định. Người tiêu dùng tin tưởng bởi rau sạch, không hóa chất. “Tôi chỉ áp dụng kinh nghiệm canh tác truyền thống rồi cải tiến để đạt hiệu quả cao hơn. Toàn bộ quy trình đều không dùng phân hóa học”, ông nói.
Người dân sử dụng dung dịch hữu cơ sau khi ngâm ủ hòa pha với nước để tưới cho cây trồng. Ảnh: L.K.
Không chỉ ở Nghĩa Hà, mô hình này còn lan rộng đến nhiều nơi khác trong tỉnh. Tại xã Ya Ly, chị Lê Hồng Thanh đã tận dụng cá tạp đánh bắt được ở lòng hồ thủy điện để chế biến thành phân cá hữu cơ phục vụ cho 2 ha cây ăn quả của gia đình. Mỗi thùng 200 lít phân cá được ủ từ 100kg cá tạp, 10kg mật mía, 2kg men vi sinh và nước, sau 1 – 2 tháng có thể sử dụng. Chị pha loãng dung dịch với nước để tưới hoặc phun lên lá, giúp cây phát triển mạnh, ra quả phát triển đều, hạn chế sâu bệnh.
“1 lít phân cá tôi pha với hơn 60 lít nước, có thể phun qua lá hoặc tưới trực tiếp vào gốc cây. Nhờ chuyển đổi từ phân hóa học sang phân cá hữu cơ, tôi tiết kiệm gần 20 triệu đồng tiền phân bón mỗi vụ. Sản lượng cây ăn quả cũng tăng từ 5 – 6 tấn/năm lên 7 – 8 tấn/năm. Trước đây dùng phân hóa học chi phí cao mà cây dễ bị sâu bệnh. Từ khi dùng phân cá, cây khỏe hơn, quả to, chất lượng tốt. Người mua cũng yên tâm hơn vì đây là sản phẩm sạch. Với giá bán các loại rau quả ổn định, mỗi năm gia đình tôi lãi hàng trăm triệu đồng”, chị Thanh chia sẻ.
Chi phí đầu tư phân bón và thuốc bảo vệ thực vật luôn chiếm tỷ trọng lớn trong sản xuất nông nghiệp. Việc người dân mạnh dạn áp dụng các phương pháp ngâm ủ phân hữu cơ từ phụ phẩm nông nghiệp không chỉ giảm gánh nặng tài chính mà còn góp phần bảo vệ môi trường đất, nước, giảm thiểu ô nhiễm.
Sử dụng phân hữu cơ ngâm ủ không chỉ tiết kiệm chi phí mà còn giúp cây trồng khỏe, ít sâu bệnh và bảo vệ môi trường. Ảnh: L.K.
Ông Nguyễn Hoài Tâm, Chi cục trưởng Chi cục Trồng trọt, Bảo vệ thực vật và Quản lý chất lượng tỉnh Quảng Ngãi cho rằng, việc người dân chủ động ngâm ủ phân bón hữu cơ từ phụ phẩm nông nghiệp đã mang lại nhiều hiệu quả thiết thực cả về kinh tế lẫn môi trường. Nông dân tiết kiệm đáng kể chi phí sản xuất nhờ tận dụng các nguyên liệu sẵn có tại địa phương như cá tạp, mật mía, rơm rạ, thân chuối, xác bã đậu nành… để tạo ra phân bón hữu cơ giàu dinh dưỡng.
Điều này không chỉ giúp cây trồng phát triển khỏe mạnh, tăng năng suất, chất lượng nông sản mà còn góp phần cải tạo độ màu mỡ của đất, cân bằng hệ sinh thái đồng ruộng, hạn chế ô nhiễm môi trường do lạm dụng hóa chất. Ông Tâm nhấn mạnh, mô hình này phù hợp với điều kiện sản xuất của nhiều địa phương trong tỉnh và đang được ngành nông nghiệp khuyến khích nhân rộng.
Rác thải thực phẩm là nguồn phát thải khí nhà kính lớn. Song, Nhật Bản và Trung Quốc đã tận dụng để sản xuất thức ăn chăn nuôi, góp phần giảm ô nhiễm khí hậu.
Khoảng 1/3 lượng lương thực thực phẩm (LTTP) sản xuất trên toàn thế giới bị thất thoát hoặc lãng phí, từ trang trại, nhà máy chế biến tới cửa hàng, nhà hàng và gia đình. Núi rác thực phẩm đang gia tăng này là nguồn phát thải khí metan lớn, chiếm 8-10% tổng lượng phát thải khí nhà kính toàn cầu.
Chính phủ nhiều nước khuyến khích thu gom, phân phối LTTP dư thừa cho người cần. Tuy nhiên, ở Mỹ, chỉ 2% lượng LTTP dư thừa được chia sẻ lại, trong khi 14,7 triệu tấn thực phẩm phù hợp làm thức ăn chăn nuôi vẫn bị chôn lấp mỗi năm. Đây là sự lãng phí lớn, bỏ qua cơ hội giảm tải bãi rác và giảm phát thải metan.
Thức ăn gia súc chế biến từ rác thải thực phẩm. Ảnh: Jill.
Nhật Bản đã đi đầu trong việc tận dụng chất thải LTTP làm thức ăn chăn nuôi từ năm 2009, với chính sách nghiêm ngặt đảm bảo an toàn. Trung Quốc cũng áp dụng đổi mới này nhằm giảm nhập khẩu ngũ cốc, cắt giảm ô nhiễm và khí thải. Trong khi đó, Mỹ vẫn hạn chế sử dụng rác thực phẩm cho chăn nuôi do lo ngại bệnh dịch.
Các chuyên gia tin tưởng, nếu xử lý đúng, chất thải LTTP có thể trở thành nguồn thức ăn an toàn, giàu dinh dưỡng, góp phần đảm bảo an ninh lương thực và bảo vệ môi trường.
Tại Nhật Bản, năm 2020, các nhà sản xuất đã lên men hoặc sấy khô 300.000 tấn rác thực phẩm thành thức ăn chăn nuôi, cung cấp 12% tổng nhu cầu thức ăn gia súc trong nước. Chính phủ Nhật còn xây dựng hệ thống chứng nhận và hỗ trợ nghiên cứu, phát triển phương pháp sản xuất “eco-feed”, nghĩa là thức ăn chăn nuôi hữu cơ.
Trung Quốc vốn có truyền thống tận dụng rác LTTP cho chăn nuôi, nhưng sau dịch tả lợn Châu Phi năm 2018, việc này bị hạn chế để kiểm soát dịch bệnh. Hiện nay, Trung Quốc đang thí điểm 20 chương trình phục hồi sử dụng chất thải LTTP làm thức ăn chăn nuôi ở nhiều thành phố.
Ở Mỹ, mỗi người vứt bỏ trung bình 250kg thực phẩm/năm, song chỉ 10% được tái chế thành thức ăn gia súc. Rào cản về pháp luật, chi phí thu gom, xử lý khiến nỗ lực này gặp nhiều khó khăn.
Các nhà khoa học đề xuất những giải pháp mới như xử lý nhiệt rác thực phẩm, hoặc dùng côn trùng (ruồi lính đen) tiêu hóa thực phẩm thừa rồi chế biến thành bột protein cho gia súc, gia cầm. FDA Mỹ đã công nhận bột ruồi lính đen là thành phần phù hợp cho thức ăn chăn nuôi. Trung Quốc cũng thử nghiệm phương pháp nuôi gián ăn rác thực phẩm làm thức ăn cho lợn.
Các mô hình từ Nhật Bản và Trung Quốc cho thấy, nếu được quản lý, đầu tư bài bản, rác thực phẩm hoàn toàn có thể trở thành nguồn dinh dưỡng bền vững, góp phần giảm chi phí, giảm phát thải khí nhà kính, tạo lợi ích kinh tế và môi trường cho nhiều quốc gia.